CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nông thôn Nông thôn được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn. Nông thôn là khu vực kém phát triển và chưa có điều kiện xây dựng tiềm lực kinh tế, xã hội.
Là nơi sinh sống của đại bộ phận dân cư sống, với tỷ trọng sản xuất nông nghiệp chiếm phần lớn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra việc phát triển kinh tế nông thôngắn với xây dựng nông thôn mới là một trong các định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là tiền đề để đưa nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Khái niệm về nông thôn mới Mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng của quá trình xây dựng nông thôn mới đã được chỉ ra trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05 tháng 8 năm 2008, trong đó nêu rõ “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”. Để phân biệt với nông thôn thông thường hiện nay, nông thôn mới trước hết phải là nông thôn chứ không phải thị trấn, thị xã, thị trấn, thành phố.
Có thể tóm tắt ở 5 nội dung cơ bản sau: (1) Làng xóm văn minh, sạch đẹp, có cơ sở hạ tầng hiện đại; (2) Sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; 6 (3) Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng tốt hơn; (4) Bản sắc văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát triển; và (5) Xã hội nông thôn an ninh tốt và quản lý dân chủ. Khái niệm về cộng đồng Cộng đồng có thể được coi là những nhóm người có chung một số đặc điểm và gắn bó với nhau như một tổng thể, hoặc là những người sống trong một khu vực cụ thể và có những đặc điểm xã hội hoặc sinh học tương tự nhau. chia sẻ một lợi thế, hoặc vật chất hoặc tinh thần. Có thể chia ra gồm 03 loại cộng đồng là: - Cộng đồng địa lý (Geographic Communities): gồm những người sống trong cùng một khu vực, có chung đặc điểm văn hóa xã hội, có quan hệ gắn bó với nhau như cộng đồng người Việt ở Đức hay cộng đồng người Mông ở Hà Giang.
Loại cộng đồng này còn có thể bao gồm cả những cộng đồng về nhu cầu hay về bản sắc, như cộng đồng người khuyết tật hay cộng đồng người cao tuổi vv… - Cộng đồng tổ chức (Community of Organizations): bao gồm từ gia đình, dòng họ, các mạng lưới, cho tới các tổ chức chính thức, kể cả kết cấu của hệ thống hoạch định chính sách, các tập đoàn kinh tế, hiệp hội nghề nghiệp ở các quy mô nhỏ, dân tộc hay quốc tế.TS Phạm Hồng Tung, ViệnViệt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội) 1. Khái niệm về nguồn lực cộng đồng Bất kỳ nguồn lực sẵn có nào trong cộng đồng hỗ trợ các cá nhân thiết lập cuộc sống riêng của họ được gọi là nguồn lực cộng đồng (Gord Cunningham, 7 2006). Các yếu tố sau đây được tích hợp đầy đủ vào khái niệm về nguồn lực cộng đồng: - Tài nguyên thiên nhiên (đôi khi được gọi là vốn tự nhiên) là những tài nguyên được tìm thấy trong một cộng đồng như đất sản xuất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng và thủy sản. - Nguồn vốn vật chất: là xây dựng các dự án trực tiếp hoặc gián tiếp giúp cải thiện đời sống của các thành viên trong cộng đồng (và các cộng đồng lân cận) như giao thông, cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm…).
- Nguồn nhân lực (vốn nhân lực): bao gồm khả năng, kiến thức và kỹ năng của các thành viên cộng đồng - Nguồn lực xã hội: là sự ràng buộc của niềm tin và sự đoàn kết tồn tại giữa các thành viên trong cộng đồng. - Nguồn lực tài chính (vốn tài chính) là những nguồn lực kinh tế đã có sẵn trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng địa phương và năng lực kinh tế của các thành viên cộng đồng (Phạm Văn Toàn, 2015) 1. Vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn Sau hơn 30 năm, nông thôn Việt Nam đang chứng kiến rất nhiều đổi thay cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, sử dụng đất đai. Nền kinh tế nông nghiệp – nông thôn Việt Nam đã có rất nhiều sự đổi thay theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nền kinh tế thuần nông bị phá vỡ, cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển dịch mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, nền kinh tế nông nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa. Xã hội cũng chứng kiến những biến động, bên cạnh mặt tích cực như thu nhập gia đình được cải thiện, mặt tiêu cực là tính cộng đồng bị giảm sút. Đi kèm với đó là sự biến đổi về sử dụng đất, đất nông nghiệp dần thu hẹp cho mục đích phát triển đô thị như xây dựng khu công nghiệp, đường cao tốc, các đô thị, sân golf. Sự thu hẹp diện tích đất canh tác, dòng người di cư nông thôn về các đô thị, tình trạng ly nông, ly hương diễn ra đáng kể, nguồn lao động trôi dạt về thành phố tìm kiếm công ăn việc làm.
Hệ 8 quả là bên cạnh việc tiếp thu lối sống công nghiệp, tâm lý hiện đại và văn minh đô thị, do thiếu chọn lọc đã tạo nên những nét tiêu cực về văn hóa. Tất cả những sự thay đổi về kinh tế, xã hội, văn hóa, sử dụng đất đã đem lại những biến động trong môi trường xây dựng nông thôn: Hàng loạt các công trình công cộng, dịch vụ thương mại được đầu tư xây dựng; một khối lượng lớn nhà ở do dân tự xây dựng cao ba đến bốn tầng xuất hiện ở rất nhiều làng, đất chật người đông cùng nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới. Công cuộc xây dựng nông thôn mới chứa đựng những bất cập trong công tác quy hoạch làng xã, kiến trúc nhà ở, nhà công cộng, công tác bảo tồn phát huy di sản kiến trúc cũng như việc quản lý công tác xây dựng… Điều này đòi hỏi rất nhiều các chủ thể chung tay xây dựng nông thôn Việt nam trong phát triển môi trường xây dựng bền vững (TS.Ngô Doãn Đức, 2015) Các nghiên cứu gần đây đều chỉ ra rằng bất cứ chương trình hay chính sách nào để phát triển khu vực bền vững, thiết thực với người dân, cần phải có sự tham gia của thành viên cộng đồng ở mọi bước, từ bước ban đầu đến bước hoàn thiện, đánh giá. Đây là phương thức tiếp cận nhân văn (humanistic approach), phương pháp tiếp cận này được đánh giá cao tại khu vực nông thôn do thu hút được sự quan tâm của người dân.
Thực tiễn cho thấy các cách thức tiếp cận khác, bao gồm tiếp cận thông qua giáo dục (educating approach) và tiếp cận thúc đẩy con người (mobilizing approach) đối với người dân nông thôn đã dẫn đến rất nhiều lạm dụng, chứa đựng ý đồ chủ quan của cá nhân. Phương thức tiếp cận nhân văn nên được nhấn mạnh tại cộng đồng nông thôn, nơi các thiết chế xã hội rất chặt chẽ, nơi mối quan hệ xã hội được xây dựng lâu dài và sâu sắc qua nhiều thế hệ (Akhimien, 2017). Điều này cũng đúng trong làng xã Việt nam, nơi tồn tại đặc tính tự trị “phép vua thua lệ làng”, nơi đặc tính “duy tình” rất lớn: “Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”. Từ những lý luận nêu trên có thể thấy cộng đồng đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển nông thôn, là tiền đề cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.
Vì cộng đồng là chủ thể của sự phát triển ở nông thôn là 9 người trực tiếp thực hiện đồng thời là những người được hưởng lợi, họ là những người nắm rõ nhất những khó khăn và những nhu cầu để phát triển nông thôn, Sự cam kết, ủng hộ của cộng đồng là tiền đề để khẳng định sự phát triển ở địa phương đó. Phát triển nông thôn lấy cộng đồng làm trung tâm Phát triển nông thôn lấy cộng đồng làm trung tâm, phát triển nông thôn cần dựa vào cộng đồng là phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng để phát triển các lĩnh vực khác nhau ở khu vực nông thôn nhằm đem lại những lợi ích thiết cho cộng đồng như phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn. Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn Trong phát triển nông thôn, sự tham gia đóng góp của cộng đồng được thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội khu vực nông thôn. Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng được thể hiện rõ nhất trong thực tế là: tham gia đóng góp, tham gia tổ chức và tham gia trao quyền.
Cụ thể: - Tham gia đóng góp: được hiểu là sự tự nguyện hay các dạng khác của sự đóng góp của người dân nông thôn để quyết định trước các chương trình và dự án. - Tham gia tổ chức: được hiểu là sự tham gia của cộng đồng vào tổ chức thực hiện một số hoạt động được triển khai cụ thể tại địa phương. Ví dụ: tham gia tổ chức làm đường giao thông nông thôn, đường nội đồng, xây dựng nhà văn hóa thôn… - Tham gia trao quyền: được hiểu là sự tham gia của cộng đồng để ủy quyền cho một ai đó có thể thay mặt cho cộng đồng có thể tự quyết định thực hiện các hoạt động chung của thôn. Ví dụ: Tham gia bầu trưởng thôn… 1.
Huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM Chương trình xây dựng NTM là chủ trương của Đảng và Nhà nước với quan điểm xuất phát từ người dân, dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra và dân thụ hưởng. Xây dựng NTM là một quá trình đầu tư hoàn chỉnh từ tất cả các 10 mặt như quy hoạch, cơ sở hạ tầng, kinh tế- văn hoá, giáo dục- y tế, chính trị, an ninh trật tự, môi trường… nên nhu cầu về các nguồn lực để xây dựng chương trình là rất lớn, trong khi đó nguồn lực của đất nước còn nhiều hạn chế.