Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về nông thôn và nông thôn mới 1. Khái niệm về nông thôn Có rất nhiều các tác giả trong và ngoài nước đưa ra những quan điểm khác nhau về nông thôn, cụ thể: - Theo Tổ chức Nông lương liên hợp quốc (FAO), nông thôn được hiểu theo hai phương pháp: Một là, nông thôn là các vùng còn lại trong khi thành thị là tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện. Hai là, dựa vào mức độ tập trung dân cư sinh sống trong cụm, từ đó quan sát để xác định vùng thành thị.
Tại Việt Nam, phương pháp thứ nhất được sử dụng để xác định thành thị và nông thôn. - Theo Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2003), nông thôn là vùng lãnh thổ của một nước hay một số đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp. Qua các nhận định trên, ta có thể hiểu nông thôn là một khu vực nằm ngoài lãnh thổ đô thị mà ở đó dân cư chủ yếu làm nghề nông nghiệp. Nông thôn luôn gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp với đại đa số người dân sống ở nông thôn, diện mạo nông thôn không có sự thay đổi rõ rệt, kinh tế luôn gặp nhiều khó khăn.
Khái niệm về nông thôn mới Nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu đặt ra cho nông thôn trong 6 điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng tiên tiến về mọi mặt so với mô hình nông thôn cũ. Như vậy, ta có thể thấy nông thôn mới là vùng nông thôn có đời sống về vật chất, tinh thần không ngừng được nâng cao, bộ mặt nông thôn được thay đổi, làng, xã văn minh sạch, đẹp, bản sắc văn hóa của người dân nông thôn được giữ gìn, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, làm chủ hơn trong cuộc sống của mình. Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng 1. Cộng đồng Cộng đồng có thể được coi là những nhóm người có chung một số đặc điểm và gắn bó với nhau như một tổng thể, hoặc là những người sống trong một khu vực cụ thể và có những đặc điểm xã hội hoặc sinh học tương tự nhau.
chia sẻ một lợi thế, hoặc vật chất hoặc tinh thần. Có thể chia ra gồm 2 loại cộng đồng là: + Cộng đồng địa lý: Gồm những người sống trong cùng một khu vực, có chung đặc điểm văn hóa xã hội, có quan hệ gắn bó với nhau như cộng đồng người Việt ở Đức hay cộng đồng người Mông ở Hà Giang. + Cộng đồng được phân tách theo chức năng: Những người có thể sống gần nhau hoặc không sống gần nhau nhưng có chung đặc điểm và sở thích, và những người liên kết với nhau dựa trên các nghề nghiệp, sở thích chung và mục tiêu hợp tác, chẳng hạn như: Cộng đồng dân tộc thiểu số, cơ sở y tế cộng đồng, v. Nguồn lực cộng đồng - Các nguồn tài nguyên thiên nhiên: Là các nguồn tài nguyên thiên nhiên tồn tại trong cộng đồng.
Ví dụ: Đất sản xuất, tài nguyên rừng, thuỷ sản… - Các nguồn tài sản vật chất: Là các công trình được xây dựng phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng lân cận). Ví dụ: Cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm…). 7 - Các nguồn tài sản về con người: Gồm các kỹ năng, kiến thức và năng lực của các thành viên trong cộng đồng. - Các nguồn tài sản xã hội: Mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, ví dụ như niềm tin.
- Các nguồn tài sản tài chính: Là các nguồn lực kinh tế tồn tại trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong vùng, khả năng kinh tế của các thành viên trong cộng đồng. Huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới - Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn: Xã hội cũng chứng kiến những biến động, bên cạnh mặt tích cực như thu nhập gia đình được cải thiện, mặt tiêu cực là tính cộng đồng bị giảm sút. Đi kèm với đó là sự biến đổi về sử dụng đất, đất nông nghiệp dần thu hẹp cho mục đích phát triển đô thị như xây dựng khu công nghiệp, đường cao tốc, các đô thị, sân golf. Sự thu hẹp diện tích đất canh tác, dòng người di cư nông thôn về các đô thị, tình trạng ly nông, ly hương diễn ra đáng kể, nguồn lao động trôi dạt về thành phố tìm kiếm công ăn việc làm.
Hệ quả là bên cạnh việc tiếp thu lối sống công nghiệp, tâm lý hiện đại và văn minh đô thị, do thiếu chọn lọc đã tạo nên những nét tiêu cực về văn hóa. Tất cả những sự thay đổi về kinh tế, xã hội, văn hóa, sử dụng đất đã đem lại những biến động trong môi trường xây dựng nông thôn: Hàng loạt các công trình công cộng, dịch vụ thương mại được đầu tư xây dựng; một khối lượng lớn nhà ở do dân tự xây dựng cao ba đến bốn tầng xuất hiện ở rất nhiều làng, đất chật người đông cùng nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới. Công cuộc xây dựng nông thôn mới chứa đựng những bất cập trong công tác quy hoạch làng xã, kiến trúc nhà ở, nhà công cộng, công tác bảo tồn phát huy di sản kiến trúc cũng như việc quản lý công tác xây dựng… Điều này đòi hỏi rất nhiều các chủ thể chung tay xây dựng nông thôn Việt nam trong phát triển môi trường xây dựng bền vững (TS. Ngô Doãn Đức, 2015).
8 Các nghiên cứu gần đây đều chỉ ra rằng bất cứ chương trình hay chính sách nào để phát triển khu vực bền vững, thiết thực với người dân, cần phải có sự tham gia của thành viên cộng đồng ở mọi bước, từ bước ban đầu đến bước hoàn thiện, đánh giá. Đây là phương thức tiếp cận nhân văn, phương pháp tiếp cận này được đánh giá cao tại khu vực nông thôn do thu hút được sự quan tâm của người dân. Thực tiễn cho thấy các cách thức tiếp cận khác, bao gồm tiếp cận thông qua giáo dục và tiếp cận thúc đẩy con người đối với người dân nông thôn đã dẫn đến rất nhiều lạm dụng, chứa đựng ý đồ chủ quan của cá nhân. Phương thức tiếp cận nhân văn nên được nhấn mạnh tại cộng đồng nông thôn, nơi các thiết chế xã hội rất chặt chẽ, nơi mối quan hệ xã hội được xây dựng lâu dài và sâu sắc qua nhiều thế hệ (Akhimien, 2017).
Điều này cũng đúng trong làng xã Việt nam, nơi tồn tại đặc tính tự trị “phép vua thua lệ làng”, nơi đặc tính “duy tình” rất lớn: “Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”. - Huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới: Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ; và bất cứ một sự phát triển nào cũng đều phải có một động lực thúc đẩy, phát triển XDNTM được dựa trên việc huy động tổng hợp các nguồn lực. + Nhân lực: Nguồn nhân lực gắn với tài nguyên tri thức và tài nguyên thông tin. Trí tuệ của con người có giá trị đặc biệt và không thể tự có được mà con người phải rèn luyện, mất công, mất sức mới có được.
Nguồn nhân lực huy động trong việc xây dựng nông thôn mới bao gồm: Huy động sức lực của toàn thể nhân dân sinh sống tại địa bàn dân cư; việc chuyển giao kiến thức, khoa học công nghệ, kỹ thuật cho lao động nông thôn để tạo ra năng lực làm việc; phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu từng ngành, lĩnh vực. Đào tạo thế hệ trẻ tạo lao động trẻ có năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu phát triển tất yếu của xã hội. Thu hút nhân tài, các nhà khoa học, doanh nhân thành đạt tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới ở quê hương. 9 + Vật lực: Nguồn vật lực bao gồm nguồn lực vật chất, đối tượng lao động, tài nguyên thiên nhiên… Nhóm nguồn lực vật chất, gồm: Tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên thủy điện, tài nguyên khí hậu, vị trí địa kinh tế…) và cơ sở vật chất kỹ thuật đã tạo dựng ra nhà cửa, đường giao thông, các trường học, trạm y tế, hệ thống cấp thoát nước… Nhóm tài lực (nguồn lực tài chính): Huy động nguồn tài lực cho xây dựng nông thôn mới bao gồm việc huy động nguồn vốn thu hút đầu tư từ nước ngoài; vốn từ ngân sách nhà nước; vốn tín dụng; vốn đầu tư từ doanh nghiệp và huy động từ cộng đồng dân cư.
Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Ở Việt Nam, cùng với sự thay đổi kinh tế từ nền kinh tế tập trung và bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hệ thống quản lý quan liêu kế thừa kiểu Xô Viết đã được thay đổi. Cải cách hành chính công được chính thức coi là một trong những yếu tố cốt lõi của “Đổi mới”, (Painter, 2005), và một trong những vấn đề của Cải cách hành chính là cải thiện nền dân chủ cơ sở. Sau cải cách hành chính, việc ban hành Pháp lệnh về dân chủ cơ sở năm 2007 cho thấy sự thay đổi chính sách ở Việt Nam. Nó đặt nền tảng pháp lý để thu hút mọi người tham gia vào quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát, bảo đảm cho người dân cơ sở, quyền được thông báo, đưa ra ý kiến, đưa ra quyết định trong một chừng mực nào đó và giám sát các kế hoạch và dự án được thực hiện ở các xã (Hà, 2010).
Đã có nhiều hành động hoặc chương trình với sự tham gia của cộng đồng được nhiều nhà nghiên cứu và học giả đề cập trong các lĩnh vực quản lý chất thải rắn, phát triển cơ sở hạ tầng và quản lý, phát triển nhà ở. Nhiều dự án ngành giao thông do Ngân hàng Thế giới tài trợ ở khu vực nông thôn của Việt Nam tập trung vào vấn đề tham gia của cộng đồng. Cách tiếp cận của sự tham gia của cộng đồng được lặp đi lặp lại trong việc lựa chọn sự sắp xếp, tiêu chuẩn xây dựng, nhà thầu, phương pháp giám sát và hệ thống bảo trì. Tuy nhiên, sự 10 tham vấn hoặc sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình ra quyết định còn hạn chế.