CHƯƠNG I: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 1. Khái niệm nghiên cứu 1. Khái niệm Công tác xã hội Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội.
CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp CTXH” [23, tr. Theo từ điển CTXH The Social work Dictionary - 5th edition do Robert L.Barker biên soạn: “Công tác xã hội à sự ứng dụng khoa học vào việc giúp đỡ (con người) người dân thực hiện chức năng xã hội của mình có hiệu quả và tạo ra sự thay đổi xã hội nhằm tăng cường chất lượng cuộc sống của tất cả mọi người” [8]. Theo từ điển Bách khoa toàn thư ngành CTXH xuất bản lần thứ 19: “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh xã hội cho người dân trong xã hội” [23, tr.
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004): Định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP. Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ 13 thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình. - Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Mặc dù có nhiều quan điểm, nhiều định nghĩa về CTXH còn khác nhau, nhưng chúng đều thống nhất về mục tiêu, mục đích, chức năng và phương pháp, về kiến thức, kỹ năng và giá trị của CTXH, đều dựa trên cơ sở khoa học về kỹ năng nghề nghiệp.
Như vậy, CTXH là một khoa học, một nghề chuyên môn nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi và phát triển các chức năng xã hội bị suy giảm thông qua việc tăng cường năng lực và thay đổi môi trường xung quanh, giúp cá nhân, nhóm, cộng đồng đó tự vươn lên, giải quyết các vấn đề tồn tại. hòa nhập và sự phát triển chung của xã hội. Khái niệm phát triển cộng đồng Khái niệm cộng đồng “Cộng đồng là một tập thể có tổchức, bao gồm các cá nhân con người sống chung một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻvới nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy” (Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn PTCĐ) “Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem nhưmột khối thống nhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùng loại hình nghềnghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thểcùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tựnhau vềmột sốkhía cạnh nào đó” (Tự điển Đại học Oxford) 14 Khái niệm phát triển “Phát triển là làm cho biến đồi từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao, hẹp đến rộng, đơn giản đến phức tạp” (Từ điển tiếng Việt) “Phát triển mang tính so sánh, mang tính thời gian. Phát triển là sự thay đổi theo hướng khác biệt đi theo hướng tốt hơn, hài lòng và ổn định hơn” (Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn PTCĐ) Khái niệm Phát triển cộng đồng Khái niệm phát triển cộng đồng được chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940.: “Phát triển cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị để phối hợp cùng với những nỗ lực của Nhà nước để cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng” (Định nghĩa chính thức của Liên Hiệp Quốc, 1956): “Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hó của các cộng đồng và giúp các cộng đồng hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia”.
+ Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh(1995): “Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bỗi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực phát triển”. Khái niệm dồn điền đổi thửa Khái niệm dồn điền đổi thửa Theo cách hiểu chung nhất “Dồn điền đổi thửa là việc chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành lớn giữa các hộ nông dân, đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất để đưa nền nông nghiệp vốn nhỏ lẻ phát triển thành sản xuất hàng 15 hóa quy mô lớn dưới sự chỉ đạo thống nhất của các cán bộ Đảng viên từ cấp trung ương đến địa phương”. Phương pháp luận 2. Chủ nghĩa Duy vật biện chứng Phương pháp duy vật biện chứng đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu thực hành phát triển cộng đồng với người dân nông thôn sau dồn điền đổi thửa trên một địa bàn nhất định phải phát huy cao nhất sự tham gia, sự tác động qua lại tích cực giữa các bên liên quan trong và sau quá trình dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp, các chính sách của Nhà nước, địa phương đưa ra phải phù hợp với tình hình và hoàn cảnh thực tiễn tại địa phương, mở ra những cơ chế, hành lang pháp lý, những chính sách thuận lợi cho người nông dân có thể yên tâm đầu tư cải tạo đất, đầu tư đưa khoa học công nghệ vào sản xuất để đạt được hiệu quả cao nhất.
Khi đường lối, chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn đưa ra phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân trong xã thì người nông dân mới có thể phát huy cao nhất những lợi thế của mình, tập trung cho phát triển sản xuất nông nghiệp, sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình, cho nền phát triển sản xuất của toàn xã, sẽ hoàn thành được các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của toàn xã trong giai đoạn 2015-2020. Chủ nghĩa duy vật lịch sử Phương pháp duy vật lịch sử là phương pháp mà người nhân viên công tác xã hội sẽ phải xác định được vai trò của mình trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh, và từng cộng đồng cụ thể, xét trên lĩnh vực địa lý, từng nền văn hóa khác nhau để có những hướng tiếp cận, hướng can thiệp kịp thời và hiệu quả nhất. Phương pháp duy vật lịch sử đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải có tính linh hoạt cao, không cứng nhắc và không áp dụng hoàn toàn cách giải quyết của cộng đồng này trong thời gian này vào cộng đồng khác trong thời 16 gian hiện tại vì những cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật trong từng giai đoạn có những sự điều chỉnh, thay đổi. Đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải tôn trọng lịch sử, tôn trọng cái đã làm được để tiếp thu, chắt lọc những mặt được, mặt tốt để áp dụng vào trong quá trình can thiệp và phải thường xuyên cập nhật, nắm vững quan điểm, chủ chương, chính sách để có thể đề ra những phương hướng, giải pháp phù hợp vận dụng một cách hiệu quả nhất trong quá trình trợ giúp.
Hướng tiếp cận nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cách tiếp cận của các khoa học liên ngành: khoa học xã hội học, kinh tế học, tâm lý học, hướng tiếp cận hai chiều vĩ mô - vi mô, tiếp cận theo quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển của Nhà nước. Các Lý thuyết áp dụng trong luận văn 3. Lý thuyết Nhận thức – Hành vi Khái niệm về nhận thức: Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể. Khái niệm về hành vi: hành vi là xử sự của con nguời trong 1 hoàn cảnh cụ thể, biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ nhất định.
Các quan điểm về hành vi và nhận thức xuất phát từ hai dòng tác phẩm tâm lý học có liên quan. Về mặt lịch sử, lý thuyết học hỏi xuất hiện đầu tiên và phát triển trong tâm lý học lâm sàng sử dụng trị liệu hành vi dựa trên nghiên cứu của tâm lý học. Sheldon (1995) biểu đạt bản chất của lý thuyết này là việc tách biệt ý thức và hành vi. Các qu an điểm tâm động học và quan điểm truyền thống lại cho rằng hành vi xuất phát từ một quá trình thực hiện theo ý thức của chúng ta, điều này có nghĩa là hành vi của con người xuất hiện dựa trên ý thức của họ.
Nhưng lý 17 thuyết học hỏi cho rằng chúng ta không thể biết được điều gì đang xảy ra trong ý thức của ai đó. Do đó, chúng ta chỉ có thể trị liệu tập trung đến việc giải quyết các vấn đề làm thay đổi hành vi mà không quan tâm đến những vấn đề biến đổi nào có thể xảy ra trong ý thức của chúng ta trong quá trình này. Lý thuyết học hỏi xã hội của Bandura (1977) mở rộng thêm quan điểm này và cho rằng hầu hết các lý thuyết học hỏi đạt được qua nhận thức của con người và suy nghĩ về những điều mà họ đã trải nghiệm qua. Họ có thể học hỏi qua việc xem xét các ví dụ của người khác và điều này có thể áp dụng vào việc trị liệu.
Như vậy lý thuyết nhận thức – hành vi là một phần của quá trình phát triển lý thuyết hành vi và trị liệu, gần đây lại được xây dựng trên lý thuyết học hỏi xã hội. Nó cũng phát triển vượt qua khỏi hình thức về trị liệu của lý thuyết trị liệu thực tế (Glasser- 1965) được các tác giả như Beck (1989) và Ellis (1962) đưa ra.