Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ngãi Lãnh Đạo Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Từ Năm 2005 Đến Năm 2015

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh quảng ngãi lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

147
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

0.6. Đóng góp của Luận văn

0.7. Kết cấu của Luận văn

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010

1.1. Những yếu tố tác động

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Quảng Ngãi

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG TOÀN DIỆN VÀ BỀN VỮNG TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp

2.2. Chủ trƣơng của Đảng bộ về đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp

2.3. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ về đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp. Kết quả thực hiện

2.4. Tốc độ tăng trưởng cao và cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.5. Sản xuất nông nghiệp từng bước phát triển toàn diện theo hướng bền vững

2.6. Các nguồn lực phục vụ cho kinh tế nông nghiệp tiếp tục được đầu tư, phát triển

2.7. Bộ mặt nông thôn thay đổi lớn, đời sống nông dân ngày càng nâng cao

2.8. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Ưu điểm và nguyên nhân. Hạn chế và nguyên nhân

3.3. Bài học kinh nghiệm chủ yếu

3.3.1. Nhận thức đúng vai trò của kinh tế nông nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội và xác định được lợi thế trong nông nghiệp để lựa chọn hướng đi phù hợp

3.3.2. Vận dụng và triển khai kịp thời, đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tế nông nghiệp

3.3.3. Chú trọng xây dựng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp một cách hiệu quả

3.3.4. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải gắn liền với xây dựng nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Tỉnh Quảng Ngãi 2005 2015

Kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2005-2015 đã trải qua nhiều biến động và phát triển mạnh mẽ. Đảng bộ tỉnh đã có những chủ trương, chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển này. Nông nghiệp không chỉ đóng vai trò cung cấp lương thực mà còn là nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong giai đoạn này, tỉnh Quảng Ngãi đã chú trọng đến việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đồng thời phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững.

1.1. Tình Hình Kinh Tế Nông Nghiệp Trước Năm 2005

Trước năm 2005, kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi gặp nhiều khó khăn. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, năng suất thấp và cơ cấu ngành chưa hợp lý. Đời sống của người dân nông thôn còn nhiều hạn chế, tỷ lệ hộ nghèo cao. Những yếu tố này đã đặt ra thách thức lớn cho Đảng bộ tỉnh trong việc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp.

1.2. Vai Trò Của Đảng Bộ Trong Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp

Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã xác định phát triển kinh tế nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Các chính sách được ban hành nhằm khuyến khích đầu tư, phát triển hạ tầng nông thôn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Sự lãnh đạo của Đảng bộ đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong lĩnh vực nông nghiệp.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Tỉnh Quảng Ngãi

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Biến đổi khí hậu, thiên tai và sự cạnh tranh từ các vùng khác là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. Đảng bộ tỉnh cần có những giải pháp hiệu quả để vượt qua những thách thức này.

2.1. Biến Đổi Khí Hậu Và Ảnh Hưởng Đến Nông Nghiệp

Biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp tại Quảng Ngãi. Thời tiết thất thường, hạn hán và lũ lụt đã làm giảm năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến đời sống của nông dân. Đảng bộ tỉnh cần có các biện pháp ứng phó kịp thời.

2.2. Cạnh Tranh Từ Các Khu Vực Khác

Sự cạnh tranh từ các tỉnh khác trong việc sản xuất nông sản đã tạo ra áp lực lớn cho nông nghiệp Quảng Ngãi. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu là cần thiết để tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

III. Phương Pháp Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Bền Vững Tại Quảng Ngãi

Để phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Từ việc khuyến khích hợp tác xã đến việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất, các giải pháp này đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

3.1. Khuyến Khích Hợp Tác Xã Trong Nông Nghiệp

Hợp tác xã đã trở thành một mô hình hiệu quả trong việc tổ chức sản xuất nông nghiệp. Đảng bộ tỉnh đã có những chính sách hỗ trợ để phát triển mô hình này, giúp nông dân tăng cường liên kết và chia sẻ kinh nghiệm.

3.2. Ứng Dụng Công Nghệ Mới Trong Sản Xuất

Việc áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đảng bộ tỉnh đã khuyến khích nông dân tham gia các khóa đào tạo và chuyển giao công nghệ để cải thiện quy trình sản xuất.

IV. Kết Quả Đạt Được Trong Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Tỉnh Quảng Ngãi

Giai đoạn 2005-2015, kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước tiến đáng kể. Năng suất cây trồng và chăn nuôi tăng lên, đời sống của người dân nông thôn được cải thiện. Những kết quả này là minh chứng cho sự lãnh đạo hiệu quả của Đảng bộ tỉnh.

4.1. Tăng Trưởng Năng Suất Nông Nghiệp

Năng suất nông nghiệp tại Quảng Ngãi đã tăng đáng kể trong giai đoạn này. Các chính sách hỗ trợ và đầu tư đã giúp nông dân cải thiện quy trình sản xuất, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

4.2. Cải Thiện Đời Sống Nông Dân

Đời sống của người dân nông thôn đã được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, nhiều gia đình đã có thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp. Điều này cho thấy sự thành công trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp.

V. Kết Luận Và Hướng Đi Tương Lai Cho Kinh Tế Nông Nghiệp Tỉnh Quảng Ngãi

Kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2005-2015 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, để phát triển bền vững trong tương lai, cần tiếp tục đổi mới và áp dụng các giải pháp hiệu quả. Đảng bộ tỉnh cần tiếp tục lãnh đạo và định hướng cho sự phát triển này.

5.1. Định Hướng Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Tương Lai

Định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Đảng bộ tỉnh cần có những chính sách cụ thể để thực hiện mục tiêu này.

5.2. Vai Trò Của Đảng Bộ Trong Tương Lai

Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp. Sự lãnh đạo hiệu quả sẽ giúp tỉnh vượt qua những thách thức và đạt được những mục tiêu phát triển bền vững.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh quảng ngãi lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2010 Chương 2. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo tiếp tục phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2011 đến năm 2015 Chương III. Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.

CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 1. Những yếu tố tác động 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Quảng Ngãi * Điều kiện tự nhiên: - Vị trí địa lý: Quảng Ngãi nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây, Tây Nam giáp tỉnh Kon Tum và Gia Lai, phía Đông giáp Biển Đông.

Có quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy qua, có quốc lộ 24A nối Quảng Ngãi với Tây Nguyên, Lào và Đông Bắc Thái Lan, gần sân bay Chu Lai (Quảng Nam). Cách đây khoảng 30 vạn năm, qua những di tích khảo cổ học 1, vùng đất Quảng Ngãi đã có con người sinh sống. Đến thời đại kim khí, một nền văn hóa Sa Huỳnh rực rõ đã xuất hiện tại đây. Sau sự đánh chiếm của nhà Tần, Tùy, từ năm 877, Quảng Ngãi thuộc vương quốc Chămpa.

Đến năm 1402, cuộc xung đột gay gắt giữa hai chính quyền phong kiến Đại Việt và Chămpa diễn ra thì Quảng Ngãi thuộc địa giới hành chính của Đại Việt. Năm 1832, lần đầu tiên Quảng Ngãi mang danh xưng hành chính là tỉnh - tỉnh Quảng Nghĩa. Từ năm 1885 đến 1945, Quảng Ngãi là địa giới do thực dân Pháp quản lý. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, tỉnh Quảng Ngãi mang tên tỉnh Lê Trung Đình, đến năm 1946 đổi lại thành tỉnh Quảng Nghĩa, thuộc sự quản lý của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đến năm 1954 đến năm 1975, Quảng Ngãi 1 Thời đại đồ đá cũ với di tích Giếng Tiền (huyện Lý Sơn), Gò Trá (huyện Sơn Tịnh); thời đại đồ đá mới với di tích Trà Phong (huyện Tây Trà); thời đại kim khí với di tích Long Thạnh, Bình Châu I, Bình Châu II (huyện Bình Sơn): Xem: UBND tỉnh Quảng Ngãi, Địa chí Quảng Ngãi, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2008, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc Việt Nam Cộng hòa.1989, hai tỉnh Quảng Nghĩa và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Ngày 01/07/1989, tỉnh Quảng Ngãi tái lập trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.

Sau ngày tái lập (1989), Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 5.131,5km2, bằng 1,7% diện tích tự nhiên cả nước [77, tr. 31] và 11 đơn vị hành chính gồm thị xã Quảng Ngãi và 10 huyện là Tư Nghĩa, Ba Tơ, Bình Sơn, Đức Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Trà Bồng. Ngày 01/01/1993, huyện Lý Sơn được thành lập. Năm 1994, huyện Sơn Tây thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Sơn Hà.

Ngày 01/12/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 145/2003/NĐ-CP về việc thành lập huyện Tây Trà trên cơ sở tách ra từ huyện Trà Bồng. Ngày 26/08/2005, thị xã Quảng Ngãi được nâng cấp lên thành phố Quảng Ngãi theo Nghị định 112/2005/NĐ-CP của Chính phủ [77, tr. Với vị trí địa lý trên, Quảng Ngãi dễ dàng tạo lập và phát triển mối quan hệ với các tỉnh phía Bắc, phía Nam hay các nước trên thế giới thông qua tuyến giao thông quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường thủy. - Địa hình: Quảng Ngãi chia thành 4 vùng rõ rệt: Rừng núi, trung du, đồng bằng và bãi cát ven biển.

Địa hình nơi đây nói chung là núi lấn sát biển, miền núi rộng lớn, có nhiều thung lũng, đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình dốc, phân khúc sẽ ảnh hưởng lớn, gây khó khăn cho phát triển KTNN. Tuy nhiên, nếu biết khai thác tốt những lợi thế từng vùng đặc biệt là vùng miền núi sẽ là điều kiện thuận lợi thúc đẩy KTNN nói chung và phát triển lâm nghiệp nói riêng. - Đất đai - thổ nhưỡng: Theo kết quả điều tra, xây dựng bản đồ đất tỉnh Quảng Ngãi (1998), do trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội thực hiện, Quảng Ngãi có 9 nhóm đất chính. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhóm đất cát ven biển: Có diện tích 6.290 ha, chiếm 1,22% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, phân bố ở các huyện ven biển và hải đảo như Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ, Lý Sơn.

Nhóm đất này thành phần chủ yếu là cát, giữ nước và phân kém, hàm lượng dinh dưỡng ở mức nghèo và rất nghèo, thường xuyên khô hạn, phù hợp trồng các loại cây màu. Nhóm đất mặn: Có diện tích 1.573,1 ha (0,30%), phân bố xen với đất phù sa ở các vùng cửa sông đổ ra biển thuộc các huyện đồng bằng ven biển. Nhóm đất này sử dụng có hiệu quả nhất là nuôi trồng thủy sản và làm muối. Nhóm đất phù sa: Có diện tích 97.157,5 ha (18,93%), phân bố ở huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, thành phố Quảng Ngãi và ven sông, suối ở các huyện miền núi.

Đất này thích hợp cho gieo trồng các loại cây như lúa, sắn (mì), mía, đậu đỗ, rau quả. Nhóm đất Glây: Có diện tích 2.052,4 ha (0,39%), phân bố ở địa hình trũng thuộc các huyện đồng bằng. Loại đất này là chua và ít chua, thích nghi trồng lúa nước nhưng cần dùng vôi để cải tạo độ chua của đất. Nhóm đất xám: Có diện tích 376.547,2 ha (73,42%), phân bố khắp nơi trong tỉnh nhưng tập trung nhiều ở các huyện miền núi.

Đất này dinh dưỡng nghèo đến trung bình, thích hợp chủ yếu cho trồng cây lâm nghiệp, ngoài ra có thể cải tạo để trồng cây mía, mì, quế. Nhóm đất đỏ: Có diện tích 8.142,4 ha (1,58%), phân bố chủ yếu ở 2 huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh. Đất này chủ yếu là thịt pha cát, thịt pha sét; có khả năng trồng cây công nghiệp lâu năm. Nhóm đất đen: Có diện tích 2.328,4 ha (0,45%), phân bố nhiều ở phía Đông huyện Bình Sơn, Đông Bắc huyện Sơn Tịnh, huyện Lý Sơn.

Đất có thành phần thịt cơ giới trung bình và thịt nặng, thích hợp với các loại cây trồng như ngô, hành tỏi, dưa hấu, cao su, điều. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhóm đất nứt nẻ: Có diện tích 634 ha (0,12%), phân bố ở huyện Bình Sơn, thành phần cơ giới là thịt nặng và sét. Nếu khắc phục được nước thì có thể trồng được nhiều loại cây công nghiệp dài ngày như chè, điều. Nhóm đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá: Có diện tích 9.696 ha (1,89%), phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh.

Đất này nghèo dinh dưỡng, phù hợp với các loại cây lâm nghiệp. Từ những số liệu trên cho thấy, phần lớn đất ở Quảng Ngãi có chất lượng trung bình. Trong tổng diện tích đất canh tác của tỉnh có 376.547,2 ha đất vùng đồi núi có khả năng phát triển lâm nghiệp, chiếm 73,42% và 99.209,9 ha đất nông nghiệp, chiếm hơn 19,36% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Vì vậy, phát triển kinh tế lâm nghiệp là một trong những thế mạnh của tỉnh.

- Khí hậu: Quảng Ngãi có hai mùa là mùa nắng và mưa; nền nhiệt độ cao và ít biến động, độ ẩm cao; lượng mưa tương đối lớn, phân bố khá đồng điều theo lãnh thổ. đã tạo nên những thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa nền nhiệt độ và chế độ mưa giữa các vùng miền; "hằng năm, có từ hai đến ba cơn bão đổ bộ trực tiếp và nhiều đợt áp thấp nhiệt đới" [77, tr. Điều này ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi và quá trình sản xuất, sinh hoạt của nhân dân.

- Sông ngòi: Với vị trí địa lý, địa hình và khí hậu nêu trên đã tạo ra một mạng lưới sông ngòi ở Quảng Ngãi tương đối phong phú, phân bố điều trên khắp lãnh thổ và có một số đặc điểm như: Bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn và đổ ra biển, sông ngắn và dốc, khả năng trữ nước ngầm để cung cấp cho dòng chảy vào mùa cạn khá nghèo nàn, hầu hết các sông về mùa cạn đều khô, lòng sông đầy cát, vào mùa mưa thường xảy ra lũ. Quảng Ngãi có 4 sông chính là Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Câu và sông Vệ. Ngoài ra, có một số sông nhỏ, ao, hồ, công trình chứa nước nhân tạo. Tuy 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, hệ thống ao hồ nước ngọt tự nhiên ở Quảng Ngãi thưa thớt, quy mô diện tích nhỏ, trong những năm gần đây thường bị bồi lập, khô hạn; hệ thống các công trình hồ chứa nước nhân tạo phần lớn phân bố ở vùng trung du và miền núi.

Các sông, suối vừa là nguồn cung cấp nước, phù sa, thủy sản vừa tạo ra những khó khăn nhất định cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. - Tài nguyên rừng: Theo kết quả điều tra lâm nghiệp giai đoạn 1992 - 2002 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ngãi, tỉnh có 344.536 ha đất lâm nghiệp, chiếm 67,1% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, được chia thành 2 loại đất chính: Đất có rừng và đất trống có khả năng trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng. Đất có rừng có diện tích 150.135 ha, chiếm tỷ lệ 43,6% diện tích đất lâm nghiệp. Đất trống có khả năng trồng rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng có diện tích 194.401 ha, chiếm tỷ lệ 56,4% diện tích đất lâm nghiệp, phân bố chủ yếu ở 6 huyện miền núi với 165.458ha, chiếm tỷ lệ 85% diện tích đất trống toàn tỉnh.

Rừng tự nhiên ở Quảng Ngãi có nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Tuy nhiên, giá trị kinh tế của rừng tự nhiên ở Quảng Ngãi không lớn, chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo và đang bị thu hẹp do người dân phá để làm nương rãy và hồ nuôi tôm. Từ những số liệu trên cho thấy diện tích rừng và có khả năng trồng rừng ở Quảng Ngãi là rất lớn, có nhiều tài nguyên, đây được xem là một lợi thế. Nhưng nhìn chung, giá trị kinh tế không cao, phân bố không đều, hầu hết chỉ tập trung ở 6 huyện miền núi.

Nếu biết khai thác sẽ đem lại giá trị kinh tế cao, nâng cao đời sống cho nhân dân, đặc biệt là người dân vùng núi, góp phần cân bằng hệ sinh thái, dự trữ và cung cấp nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt. - Tài nguyên biển: Quảng Ngãi có đường bờ biển dài gần 130 km với 04 cửa biển chính giúp tàu thuyền ra vào tương đối thuận lợi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ