Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện vũ thư tỉnh thái bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Đảng bộ huyện Vũ Thư trong phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1996-2010 tại Thái Bình.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

140
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN VŨ THƯ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000

1.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp của huyện Vũ Thư và thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện trước năm 1996

1.2. Đặc điểm tự nhiên và KT - XH

1.3. Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Vũ Thư trước năm 1996 và những yêu cầu đặt ra

1.4. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ trương của Đảng bộ huyện Vũ Thư về phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn (1996-2000)

1.4.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1.4.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn

1.5. Quá trình chỉ đạo thực hiện và kết quả

1.6. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN VŨ THƯ LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

2.1. Kinh tế nông nghiệp ở huyện Vũ Thư giai đoạn 2001-2005

2.2. Quan điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông nghiệp

2.3. Chủ trương của Đảng bộ huyện về phát triển nông nghiệp toàn diện

2.4. Quá trình chỉ đạo thực hiện và kết quả

2.5. Đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2006 đến năm 2010. Quan điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

2.6. Chủ trương của Đảng bộ huyện về đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp

2.7. Quá trình Đảng bộ huyện chỉ đạo thực hiện vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn

2.8. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

3.1. Nhận xét chung

3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu

3.3. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp Huyện Vũ Thư 1996 2010

Phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Vũ Thư từ năm 1996 đến 2010 là một quá trình quan trọng, phản ánh sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Giai đoạn này chứng kiến nhiều thay đổi tích cực trong chính sách và thực tiễn sản xuất nông nghiệp, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

1.1. Đặc Điểm Tự Nhiên và Kinh Tế Xã Hội Huyện Vũ Thư

Huyện Vũ Thư có vị trí địa lý thuận lợi với điều kiện tự nhiên phong phú, tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp. Đặc điểm khí hậu và đất đai màu mỡ là những yếu tố quan trọng giúp huyện phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.

1.2. Tình Hình Kinh Tế Nông Nghiệp Trước Năm 1996

Trước năm 1996, kinh tế nông nghiệp huyện Vũ Thư gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nhờ vào sự lãnh đạo của Đảng, huyện đã có những bước tiến quan trọng trong việc cải cách và phát triển sản xuất nông nghiệp.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng huyện Vũ Thư cũng đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Những vấn đề như biến đổi khí hậu, dịch bệnh và cơ sở hạ tầng yếu kém đã ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng nông sản.

2.1. Biến Đổi Khí Hậu và Ảnh Hưởng Đến Nông Nghiệp

Biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Huyện cần có các biện pháp ứng phó hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại.

2.2. Dịch Bệnh và An Toàn Thực Phẩm

Dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi là một trong những thách thức lớn. Việc đảm bảo an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng là ưu tiên hàng đầu trong phát triển nông nghiệp.

III. Phương Pháp và Giải Pháp Chính Để Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp

Để phát triển kinh tế nông nghiệp, huyện Vũ Thư đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp hiệu quả. Các chính sách hỗ trợ nông dân, đầu tư vào công nghệ và cải cách cơ cấu sản xuất là những yếu tố quan trọng.

3.1. Chính Sách Hỗ Trợ Nông Dân

Chính sách hỗ trợ nông dân thông qua các chương trình đào tạo, tín dụng và khuyến nông đã giúp nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện đời sống.

3.2. Đầu Tư Vào Công Nghệ Nông Nghiệp

Đầu tư vào công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp đã giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Việc áp dụng công nghệ cao là cần thiết để nâng cao sức cạnh tranh.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Vũ Thư đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Năng suất cây trồng và chăn nuôi tăng lên, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

4.1. Thành Tựu Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

Năng suất lúa và các loại cây trồng khác đã tăng đáng kể, giúp huyện Vũ Thư trở thành một trong những vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của tỉnh Thái Bình.

4.2. Cải Thiện Đời Sống Người Dân

Sự phát triển kinh tế nông nghiệp đã cải thiện đời sống của người dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Kinh Tế Nông Nghiệp Huyện Vũ Thư

Kinh tế nông nghiệp huyện Vũ Thư đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1996-2010. Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển bền vững, huyện cần có những chiến lược dài hạn và giải pháp đồng bộ.

5.1. Định Hướng Phát Triển Tương Lai

Huyện cần tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, đồng thời bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

5.2. Vai Trò Của Cộng Đồng Trong Phát Triển Nông Nghiệp

Cộng đồng cần được khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển nông nghiệp, từ đó tạo ra sự đồng thuận và hợp tác trong sản xuất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện vũ thư tỉnh thái bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN VŨ THƯ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp của huyện Vũ Thư và thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện trước năm 1996 1. Đặc điểm tự nhiên và KT - XH Vũ Thư là một huyện nằm ở phía tây nam của tỉnh Thái Bình, được thành lập ngày 17-6-1969 theo Quyết định số 93/CP của Chính phủ, trên cơ sở sáp nhập 28 xã của huyện Thư Trì và 14 xã của huyện Vũ Tiên. Với vị trí nằm ở cửa ngõ của tỉnh, một phía giáp huyện Kiến Xương, ba phía còn lại được bao bọc bởi sông Hồng và sông Trà Lý với hơn 70 km đê.

Không chỉ có giao thông đường thủy thuận lợi, Vũ Thư còn có quốc lộ 10 chạy qua, là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc, giao lưu với nhiều địa bàn rộng lớn, nhất là hai trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - Thành phố Thái Bình và Thành phố Nam Định. Vũ Thư có diện tích rộng 195 km2, là một trong số rất ít huyện ở miền Bắc không có đồi núi, địa hình chung tương đối bằng phẳng nhưng tiểu địa hình phức tạp cao thấp xen kẽ nhau, hầu hết đều theo nếp sóng và lòng chảo cục bộ. Cao trình mặt ruộng sản xuất so với mặt biển cao nhất là 3 m; trung bình 1,5 m; thấp nhất 0,4 m; ảnh hưởng không ít đến úng trong mưa, hạn cục bộ vụ đông xuân và địa bàn cơ giới hóa khâu làm đất. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu mang tính đặc trưng của vùng là nóng ẩm với nhiệt độ trung bình trong năm là 23-240C.

Lượng mưa trung bình 1.900 mm, độ ẩm lớn 85-90% được phân làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa ít và mùa mưa (gần trùng với mùa lạnh và mùa nóng). Do nằm ở vị trí gần biển lại không có đồi núi nên khí hậu của huyện có sắc thái riêng hơi khác với đặc điểm chung của toàn vùng, khí hậu tương đối điều hòa ít phân theo lãnh thổ, các yếu tố bất thuận với nông nghiệp, đây là điều kiện thuận lợi cho thâm canh tăng vụ và gieo trồng quanh năm. Là huyện hầu hết được bao bọc bởi các con sông lớn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cộng với khí hậu nóng ẩm, lượng mưa nhiều nên Vũ Thư có nguồn nước tưới dồi dào, chất lượng nước có tác dụng tốt cho thâm canh cải tạo đất, khả năng tưới tiêu tự chảy trên diện rộng. Về đất nông nghiệp, màu mỡ phì nhiêu, có điều kiện và khả năng tạo nền thâm canh để đạt năng suất cây trồng cao và ổn định.

Đất làm nông nghiệp được phân bổ ở các ven sông nên được bồi hàng năm, đây là thế mạnh cơ bản trong việc phát triển nông nghiệp của huyện. Đất phù sa mới của hệ thống sông Hồng chiếm 95,5% diện tích đất canh tác, hàm lượng mùn đạm, lân tổng số từ trung bình đến giàu chiếm 55%, độ chua từ trung bình đến ít chua chiếm 63%, đất hạng 1 (rất tốt) và đất hạng 2 (tốt) chiếm 61%; đất hạng 3 (trung bình) chiếm 28%, đất hạng 4 (xấu) chiếm 11% so với tổng diện tích đất canh tác. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đất đai chủ yếu được bồi tụ do phù sa bởi 2 hệ thống sông Hồng và sông Trà Lý, tỷ lệ đất phèn và đất cát ít chỉ chiếm 6% nên không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất. Dân cư đông đúc, với trên 223.000 người, nguồn nhân lực dồi dào, cần cù, chịu khó, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất thâm canh và ngành nghề truyền thống - đây là điều kiện cơ bản, là nguồn vốn to lớn trong phát triển sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh những thuận lợi căn bản trên, việc phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện cũng gặp phải những khó khăn, phức tạp nhất định. Vì có nhiều sông lớn bao bọc, thời tiết thay đổi, mưa bão xảy ra thường xuyên gây ngập úng nghiêm trọng ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng thóc cả năm. Sông ngòi tuy nhiều, nhưng quanh co, khúc khuỷu và bị bồi lắng. Mặt khác, việc tiêu nước, tưới nước chịu ảnh hưởng của nước thủy triều lên, xuống từng mùa.

Lượng mưa giữa các mùa trong năm chênh lệch nhau khá lớn. Trong một năm, thời kỳ mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 với lượng mưa trung bình chỉ chiếm từ 1/5 đến 1/6 cả năm; tháng 7, 8, 9 thường mưa lớn, có những trận mưa chỉ trong một vài ngày tới 300 - 400 mm. Thời gian mưa nhiều và có lượng mưa lớn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lại là thời gian nước thượng nguồn to đổ về, hoặc gặp bão, nước biển dâng cao, gây khó khăn cho việc tiêu nước. Sâu bệnh thường phát sinh, phát triển quanh năm, phá hoại mùa màng.

Do đất chật, người đông nên không có bãi chăn nuôi trâu bò sinh sản, sức kéo quá thiếu, chăn nuôi gia súc, gia cầm khó phát triển. Đảng bộ và nhân dân huyện Vũ Thư nhận thức rõ những đặc điểm của huyện mình, chủ động tìm ra những giải pháp nhằm tận dụng lợi thế để phát triển KT - XH nói chung và phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng. Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Vũ Thư trước năm 1996 và những yêu cầu đặt ra Từ năm 1986 đến năm 1990, trải qua 5 năm thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Vũ Thư cũng như khắp mọi miền cả nước bước đầu đạt được những thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội vô cùng quan trọng. Tuy vậy, đất nước ta vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng về kinh tế - xã hội.

Rất nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết như: lao động không có việc làm, không ít cơ sở sản xuất kinh doanh còn đình đốn, thua lỗ, lạm phát đã giảm nhưng còn ở mức cao, đời sống một bộ phận nhân dân nhất là những người hưởng lương, hưởng trợ cấp xã hội còn gặp nhiều khó khăn… Trong khi đó tình hình trong nước và thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sau khi Liên Xô sụp đổ. Các thế lực thù địch, cơ hội lợi dụng đưa ra nhiều chính sách mang tính chất mị dân, đòi đa nguyên chính trị, âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thành tựu cách mạng của đất nước. Đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử đặt ra, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 tại Ba Đình, Hà Nội. Đại hội VII của Đảng có nhiệm vụ trọng đại không chỉ tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện đường lối đổi mới từ Đại hội VI mà còn thông qua cương lĩnh vạch ra hệ thống những quan điểm và phương 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hướng cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.

Thực hiện Chỉ thị số 59-CT/TW ngày 22-5-1990 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI), Thông tri số 01 ngày 16-7-1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ( khóa VII) và Kế hoạch của Tỉnh ủy Thái Bình, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Vũ Thư khóa X được diễn ra vào ngày 27-3-1991. Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, Đại hội chỉ rõ: Kể từ khi thực hiện Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị, đã có bước phát triển tương đối khá ở cả trồng trọt và chăn nuôi. Người dân Vũ Thư từ chỗ thiếu ăn nay đã đủ ăn và không ít người có lương thực dự trữ. Nhưng bên cạnh đó, trong “Khoán 10” cũng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó nổi lên hết sức nóng bỏng, gay gắt là vấn đề đất đai.

Chính vì vậy mà sau khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 292 về đo đạc, hoàn thiện hồ sơ hành chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND tỉnh Thái Bình đã có quyết định số 16- QĐ/UB quy định về cấp và sử dụng đất vào việc xây dựng cơ bản và làm nhà ở của nhân dân. Về phương hướng cơ bản của sản xuất nông nghiệp trong những năm 1991-1995, Đại hội thống nhất: “Tiếp tục coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú ý phát triển nông nghiệp toàn diện và chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn để chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Kết hợp chặt chẽ việc phát triển nông nghiệp với việc giải quyết đồng bộ về vấn đề nông dân và nông thôn” [9, tr. Hướng trọng tâm là sản xuất lương thực, chú ý tăng cả sản lượng thóc và sản lượng màu bằng biện pháp thâm canh, luân canh mở rộng diện tích.

Tập trung khai thác thế mạnh về năng suất vụ xuân, nâng dần năng suất lúa mùa, phấn đấu năng suất cả năm ổn định ở mức 86-90 tạ/ha. Tiếp tục mở rộng diện tích vụ đông lên từ 40-50% diện tích canh tác. Tăng diện tích màu lương thực như ngô, khoai lang, khoai tây, chú trọng thâm canh 3 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ ngô trong năm, mở rộng thêm diện tích ngô đông trên diện tích hai lúa, phấn đấu đến năm 1995 đạt sản lượng 15-17 ngàn tấn màu quy thóc, coi trọng nhu cầu thị trường và hiệu quả kinh tế của từng loại cây vụ đông để có hướng bố trí và khoanh vùng chuyển hướng nếu thấy hiệu quả hơn. Cây công nghiệp ổn định khoảng 2.700 ha, tùy theo hiệu quả trong từng thời kỳ để bố trí loại cây cho phù hợp.

Cần phát triển diện tích dâu, phát triển nghề nuôi tằm để có sản lượng kén từ 600-650 tấn/năm. Đẩy mạnh nuôi lợn, trâu bò, gia cầm và cá. Tập trung giải quyết có hiệu quả vấn đề con giống, thú y và thị trường tiêu thụ. Cũng giống như nhiều địa phương khác trong tỉnh, nông nghiệp của Vũ Thư luôn chịu tác động nặng nề bởi yếu tố thời tiết.

Vụ lúa chiêm xuân năm 1991 đã bị ảnh hưởng lớn. Vào vụ này, thời tiết bất thường hoàn toàn không thuận lợi cho cây lúa nên năng suất bình quân toàn huyện chỉ đạt 22,2 tạ/ha - mức thấp nhất trên 20 năm trở lại đây. Song, đến vụ mùa thời tiết khá thuận lợi với quyết tâm “lấy mùa bù chiêm” của Đảng bộ và nhân dân nên năng suất thu hoạch tương đối khá, đạt 50,8 tạ/ha. Do đó, tổng diện tích lúa cả năm gần 17.500 ha đã cho tổng sản lượng 64.139 tấn, thấp hơn năm 1990 là 9.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ