Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện tiền hải thái bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2015

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích ussh đảng bộ huyện tiền hải thái bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên – xã hội và thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải trƣớc năm 2000

1.1.1. Điều kiện tự nhiên - xã hội

1.1.2. Tình hình kinh tế nông nghiê ̣p huyê ̣n Tiề n Hải trước năm 2000

1.2. Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005

1.2.1. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của TW Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình

1.2.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Tiền Hải về phát triển kinh tế nông nghiệp tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV (2000)

1.2.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện

1.3. Tiểu kết chương 1

1. CHƯƠNG 1: LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI

1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên – xã hội và tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải trƣớc năm 2000

1.1.1. Điều kiện tự nhiên - xã hội

1.1.2. Tình hình kinh tế nông nghiê ̣p huyê ̣n Tiề n Hải trước năm 2000

1.2. Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005

1.2.1. Chủ trƣơng phát triển kinh tế nông nghiệp

1.2.1.1. Chủ trương phát triển kinh tế của TW Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình
1.2.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải

1.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện

1.2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng thị trường
1.2.2.2. Chỉ đạo chuyển đổi, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng và các gia trại, trang trại chăn nuôi
1.2.2.3. Chỉ đạo hình thành vùng chuyên canh nuôi trồng thủy sản

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015

2.1. Chủ trƣơng phát triển kinh tế nông nghiệp

2.1.1. Chủ trương phát triển kinh tế của TW Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình

2.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải

2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện

2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng thị trường

2.2.2. Chỉ đạo chuyển đổi, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng và các gia trại, trang trại chăn nuôi

2.2.3. Chỉ đạo hình thành vùng chuyên canh nuôi trồng thủy sản

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

3.1. Một số nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tiền Hải

3.1.1. Đảng bộ huyện Tiền Hải nhanh chóng lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp

3.1.2. Công tác chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp luôn bám sát thực tiễn và kịp thời đưa ra nhiều giải pháp phù hợp với tình hình địa phương

3.1.3. Đảng bộ huyện Tiền Hải còn mắc phải một số hạn chế trong công tác lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế nông nghiệp

3.2. Một số kinh nghiệm lịch sử

3.2.1. Quán triệt chủ trương của Đảng về chuyển dịch ngành trong nông nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế của địa phương

3.2.2. Cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường

3.3. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải giai đoạn 2000 2015

Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đã trải qua nhiều biến đổi trong phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến 2015. Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của nền kinh tế nông nghiệp, nhờ vào các chính sách phát triển nông thôn và đầu tư cơ sở hạ tầng. Đặc biệt, huyện đã chú trọng vào việc nâng cao năng suất cây trồng và phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững.

1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp

Tiền Hải có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với đất đai màu mỡ và hệ thống thủy lợi phong phú. Tuy nhiên, huyện cũng đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu và tình trạng xâm nhập mặn.

1.2. Tình hình kinh tế nông nghiệp trước năm 2000

Trước năm 2000, kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải chủ yếu dựa vào sản xuất lúa gạo. Tuy nhiên, năng suất và hiệu quả sản xuất còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và phát triển bền vững.

II. Những thách thức trong phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải

Mặc dù có nhiều tiềm năng, huyện Tiền Hải vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Các vấn đề như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và thiếu nguồn lực đầu tư đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

2.1. Biến đổi khí hậu và tác động đến sản xuất nông nghiệp

Biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng và chăn nuôi. Huyện cần có các biện pháp ứng phó hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại.

2.2. Thiếu nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp

Việc thiếu hụt nguồn lực đầu tư cho cơ sở hạ tầng và công nghệ đã làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Tiền Hải trên thị trường.

III. Phương pháp phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải giai đoạn 2000 2015

Để phát triển kinh tế nông nghiệp, huyện Tiền Hải đã áp dụng nhiều phương pháp và chính sách khác nhau. Các chương trình khuyến nông, hỗ trợ kỹ thuật và đầu tư cơ sở hạ tầng đã được triển khai nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

3.1. Chính sách phát triển nông nghiệp bền vững

Huyện đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp bền vững, bao gồm việc áp dụng công nghệ mới và phát triển các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường.

3.2. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông nghiệp

Đầu tư vào hệ thống thủy lợi, giao thông và các cơ sở chế biến nông sản đã giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

IV. Kết quả đạt được trong phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải

Giai đoạn 2000-2015, huyện Tiền Hải đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Năng suất cây trồng và sản lượng nông sản tăng đáng kể, góp phần nâng cao đời sống người dân.

4.1. Tăng trưởng sản xuất nông nghiệp

Sản lượng lúa gạo và các loại cây trồng khác đã tăng lên rõ rệt, giúp huyện Tiền Hải trở thành một trong những vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của tỉnh Thái Bình.

4.2. Cải thiện đời sống người dân

Nhờ vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp, đời sống của người dân huyện Tiền Hải đã được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải

Kinh tế nông nghiệp huyện Tiền Hải đã có những bước tiến quan trọng trong giai đoạn 2000-2015. Tuy nhiên, để phát triển bền vững trong tương lai, huyện cần tiếp tục cải thiện chính sách và đầu tư vào công nghệ mới.

5.1. Định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp trong tương lai

Huyện cần xây dựng các chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong phát triển nông nghiệp

Cộng đồng cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động phát triển nông nghiệp, từ đó tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện tiền hải thái bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005 của Đảng bộ huyện Tiền Hải Chương 2: Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải từ năm 2006 đến năm 2015. Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾNÔNG NGHIỆP TỪNĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI 1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên – xã hội và tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Tiề n Hảitrƣớc năm 2000 1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội Tiền Hải là huyện đồng bằng ven biển nằm ở vị trí Đông Nam tỉnh Thái Bình thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, giáp các huyện: Phía Bắc giáp huyện Thái Thụy; phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ; phía Nam giáp với huyện Giao Thủy (Nam Định); phía Tây giáp huyện Kiến Xương. Tiền Hải không chỉ biết đến bởi những đặc sản của vùng biển mà còn nhắc đến với hai từ thân thuộc “Quê Lúa”.

Trong chiến tranh Tiền Hải đã làm tốt vài trò của hậu phương lớn, chi viện cho miền Nam. Đạt thành tích cao trong sản xuất nông nghiệp không chỉ thời chiến, mà thời bình huyện Tiền Hải còn tiếp tục phát huy truyền thống quê lúa, đạt nhiều thành tựu trong sản xuất. Huyện được thành lập từ tháng 9 năm 1828, sau cuộc khẩn hoang của người nông dân vùng ven biển Tiền Châu do doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ xuất xưởng và tổ chức. Trải qua 180 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, nay Tiền Hải có một Thị Trấn, 34 xã.

Tiền Hải cách thành phố Thái Bình 21km và cách Thủ Đô Hà Nội chừng 130km, hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ thuận lợi cho giao lưu hội nhập thương mại, thông tin khoa học kỹ thuật, tiếp thu thành tựu khoa học tiên tiến, khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước. Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ được bồi đắp bởi phù sa của các con sông lớn như Sông Hồng, Trà Lý. Do đặc trưng vùng châu thổ sông Hồng nên địa hình của huyện khá bằng phẳng và nghiêng dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Tuy với đặc điểm của bãi bồi ven biển nên địa hình của huyện có dạng lồng chảo vùng trũng ở phía nội đồng, vùng cao ở ven biển.

Vùng trũng chủ yếu là các xã: Tây Phong, Tây Tiến, Đông Lâm, có độ cao Trung Bình là 0,5 – 0,6 so với mặt nước biển. Vùng cao ven biển chủ yếu ở các xã: Đông Minh, Đông Trà, Đông Hoàng, Đông Quý có độ cao trung bình là 1m so với mặt nước biển rất thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đất ở đấy chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, phân bố trên địa hình khá bằng phẳng, thích hợp với việc trồng lúa, cây hoa màu, cây công nghiệp có năng xuất cao, có khả năng thâm canh, tăng vụ. Huyện có diện tích đất tự nhiên rộng song lại có đặc điểm đất đai rất phức tạp và khó khăn hơn các huyện nội đồng.

Đất chua mặn nhiều, có thể chia thành ba miền khác nhau khoảng 45% diện tích đất vùng ngọt, 30% diện tích đất vùng đệm, 25% diện tích đất phèn mặn. Địa hình đất đai cao trũng khác nhau có độ chênh lệch lớn, nên công tác thủy lợi tưới tiêu khó khăn. Sự khác biệt về chất đất của huyện, không những khó khăn thử thách lớn đối với sản xuất nông nghiệp, mà trái lại huyện đã biến những khó khăn đó trở thành động lực, phát triển ngành nông nghiệp đa dạng với nhiều lĩnh vực, cây trồng, con vật nuôi mà không chỉ đơn thuần là sản xuất lúa. Do vậy công tác khai phá và cải tạo vùng đất này để phục vụ sản xuất nông nghiệp luôn là một yêu cầu cấp thiết, vô cùng quan trọng tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện.

Tiền Hải nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa mang nhiều nét đặc trưng của khí hậu duyên hải, mùa đông thường thì ấm hơn, mùa hè thì mát hơn so với các vùng sâu trong nội địa. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23°C - 24°C cao nhất lên tới 39°C, thấp nhất khoảng 4,1°C, chênh lệch nhiệt độ giữ ngày nóng và lạnh là khoảng từ 15°C tới 20°C. Lượng mưa: Trung bình hàng năm từ 1.500 – 200mm, tập trung chủ yếu vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3,4 năm sau, độ ẩm dao động từ 80% - 90%. Bức xạ mặt trời lớn: Số giờ nắng trung bình từ 1.

Tổng nhiệt lượng cả năm 19. Gió: Gió thịnh hành gió Đông Nam mang theo không khí nóng ẩm, mùa hè hay có gió bão kèm theo mưa lớn, bão thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10, mỗi năm trung bình chịu ảnh hưởng từ 2 đến 3 cơn bão. Mùa đông là gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí lạnh. Thủy văn: Huyện có hệ thống sông ngòi chằng chịt với sông Hồng và cửa Ba Lạt và các chi lưu của nó.

Sông Hồng chảy qua phía Nam huyện đổ ra biển Đông là ranh giới tự nhiên giữa Tiền Hải và Nam Định. Sông Trà Lý là chi nhánh của sông 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hồng đổ ra biển Đông chảy qua phía Bắc huyện là ranh giới giữa Tiền Hải và huyện Thái Thụy. Sông Lân là chi lưu của sông Hồng chảy xuyên qua nội địa huyện đổ ra Biển như dây cung vạch ngang địa hình, hai cánh cung là sông Hồng và sông Trà Lý. Sông Long Hầu là chi lưu của sông Trà Lý chảy ngang qua huyện, đây là trục sông chính dẫn nước ngọt cho toàn huyện Tiền Hải, ngoài ra nó có hệ thống kênh mương dày đặc.

Sông ngòi: Tiền Hải có nguồn nước ngọt dồi dào tải lượng phù xa lớn và thuận lợi về nguồn nước tưới thau chua rửa mặn cho toàn bộ ruộng của huyện. Với lượng phù sa lớn đổ ra biển tạo thành những bãi bồi lớn ở các cửa sông là thế mạnh của huyện cho phát triển nông lâm ngư nghiệp. Bãi biển: Tiền Hải thuộc vùng biển nước triều theo chế độ nhật triều hoạt động mạnh vào tháng 1, 6,7,12. Vì vậy nước mặn có thể theo chế dộ nhật triều vào sâu trong nội địa ở các sông lớn như Trà Lý độ mặn (muối 1% vào sâu tới 8km, sông Hồng vào tới 10Km).

Diện tích đất tự nhiên 28.698 ha do phù sa sông Hồng bồi đắp, trong đó diện tích đất trong đê là 20.037 ha chiếm 70% diện tích, ngoài đê biển 8.661 ha chiếm 30% diện tích. Diện tích đất nông nghiệp 16.684 ha có 23km bờ biển thuận lợi cho nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản và vận tải du lịch, có 3 cửa sông lớn đổ ra biển là sông Hồng, sông Trà Lý và sông Lân, hàng năm đưa triệu m³ phù sa ra biển tạo ra những bãi bồi lớn. Cứ khoảng 20 – 30 năm lại được thêm một xã mới, hiện nay có khoảng gần 10.000 ha đất bãi bồi ven sông, ven biển tập trung ở khu Cồn Vành, Cồn Thủ. Đây là tiềm năng to lớn của huyện đã và đang được khai thác nhất là việc nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và trồng rừng phòng hộ, tạo cảnh quan phát triển du lịch.

Tiền hải có mỏ khí đốt ở xã Đông cơ trữ lượng lớn, hiện nay đang được khai thác để phục vụ cho các ngành công nghiệp như: Sứ, thủy tinh, gạch ốp lát, gạch micado, xi măng trắng, điện khí đốt, sứ vệ sinh cao cấp. Ngoài ra Tiền Hải còn có nước khoáng với chất lượng tốt đang được khai thác ở độ sâu gần 500m, sản xuất nước khoáng theo công nghệ tiên tiến với quy mô lớn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu như nước khoáng Vital. Dân số và nguồn nhân lực : Tiền Hải là huyện đồng bằng ven biển cư dân sống tập trung trong huyện ngày một đông. Theo kết quả điều tra tới năm 2009 thì 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân số của huyện ước tính là 224.854 ngàn người với 55.632 hộ, trong đó dân số trong nông nghiệp chiếm gần 85%.

Mật độ dân số trung bình là 890 người/km² huyện, thôn xóm đan xen lẫn nhau. Đến nay có 100% số xã có đường ôtô đi qua trung tâm xã và đường rải đá láng nhựa. Từ 1993 đến nay toàn huyện đã rải được trên 300km, năm 1999 bàn giao một số tuyến đường cho tỉnh quản lý, hiện nay huyện còn quản lý 90km. Đường thôn xã rải đá láng nhựa 95km, đường bê tông xóm 550km.

Giao thông đường thủy thuận tiện với 23km bờ biển và hệ thống sông Hồng, sông Trà Lý, sông Lam, sông Long Hầu đóng vai trò quan trọng trong vận chuyển hàng hóa giao lưu giữa các vùng trong huyện và với các huyện, tỉnh ngoài. Đến năm 2008 có thêm một cơ sở đóng tàu mới nâng tổng số lên là 3 cơ sở đó là công ty Minh Thanh ở xã Đông Hải đang đóng mới 4 tàu biển với trọng tải trên 500 tấn/tàu, đó là một lợi thế phát triển vận tải biển. Hệ thống thủy lợi là công tác rất quan trọng trong quá trình sản xuất, cải tạo đất đai của huyện. Đến nay huyện đã có hệ thống kênh mương và trạm bơm khá hoàn chỉnh, đảm bảo cơ bản nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp của toàn huyện.

Hai trạm bơm lớn là trạm bơm Thống Nhất và trạm bơm Nam Tiền Hải. Cùng với trên 70 trạm bơm nhỏ với hàng trăm km mương cấp 1,2 và đê biển ngăn mặn, chống lũ, đảm bảo đáp ứng nhu cầu kịp thời phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân. Thực hiện kiện cố hóa kênh mương từ năm 2000 đến nay đã triển khai xây dựng ở một số xã, giá trị thực hiện năm 2000 là 3,5 tỷ đồng, xây dựng xong dự án cải tạo nâng cấp trạm Thống Nhất là 28,3 tỷ đồng. Hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh, từng bước được nâng cấp.

Hệ thống các đài phát thanh huyện, xã, thôn đảm bảo cung cấp đầy đủ những thông tin về tình hình diễn biến của sản xuất nông nghiệp đến với nhân dân. Mạng lưới điện được hoàn chỉnh, 35/35 xã, thị trấn có điện sáng, số hộ dân sử dụng đáp ứng được yêu cầu phục vụ và sản xuất đời sống. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất ngày càng hoàn thiện là một điều kiện vô cùng thuận lợi để huyện tập trung phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ