Tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp giữ vai trò chiến lược sống còn đối với sự ổn định kinh tế - xã hội tại Việt Nam khi có khoảng 80% dân số sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn. Tại tỉnh Khánh Hòa, dân số nông thôn chiếm xấp xỉ 63% tổng dân số toàn tỉnh với 107.117 hộ gia đình phân bố trên 106 xã, trong đó có tới 64.260 hộ thuần nông. Sau ngày đất nước thống nhất, quá trình tập thể hóa nông nghiệp theo mô hình hành chính bao cấp bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng, khiến phong trào hợp tác xã nông nghiệp rơi vào suy thoái sâu sắc. Trên phạm vi cả nước, số lượng hợp tác xã sụt giảm mạnh từ 18.631 đơn vị vào năm 1989 xuống còn khoảng 12.000 đơn vị vào năm 1991, trong đó ước tính 55% số cơ sở chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa hình thức.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và tính chất của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp Khánh Hòa, một địa phương có địa hình dốc hẹp với diện tích đất canh tác nông nghiệp chỉ chiếm 11,6% (tương đương 60.520 ha) và hệ thống thủy lợi chỉ đáp ứng được 36,05% nhu cầu thực tế. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác, đánh giá thực trạng các giai đoạn phát triển hợp tác xã nông nghiệp tại Khánh Hòa từ năm 1978 đến năm 1996, từ đó đề xuất các giải pháp căn bản nhằm đổi mới và chuyển đổi mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 1996.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực kinh tế hợp tác và hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, không bao gồm lâm nghiệp và ngư nghiệp, xuyên suốt tiến trình từ sau năm 1975 đến năm 1997. Công trình có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng cao thu nhập bình quân của nông dân Khánh Hòa từ mức 130.700 đồng/người/tháng năm 1994, giải quyết việc làm cho hơn 25.000 lao động dôi dư tại nông thôn và thúc đẩy năng suất lúa vượt mốc 40,65 tạ/ha/vụ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất bao gồm ba yếu tố cốt lõi: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm. Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật kinh tế khách quan chi phối toàn bộ tiến trình cải tổ nông nghiệp.

Kế thừa kế hoạch hợp tác hóa của V.I. Lênin, nghiên cứu khẳng định ba tiền đề cơ bản: củng cố chính quyền công nông, làm chủ các khâu then chốt của nền kinh tế và nâng cao dân trí nông thôn. Bên cạnh đó, luận văn tiếp thu luận điểm của nhà kinh tế học nông nghiệp A.V. Chayanov (1927) khi chỉ ra rằng hợp tác xã là hình thức bổ sung phục vụ cho các nông hộ tự chủ chứ không triệt tiêu kinh tế hộ. Tác giả cũng tham chiếu lý thuyết của I.V. Emelianoff (1942) về bản chất hợp tác xã là sự liên kết các doanh nghiệp hộ độc lập nhằm tối ưu hóa chi phí dịch vụ, quản trị theo nguyên tắc dân chủ bình đẳng "một thành viên - một phiếu bầu".

Khung phân tích vận dụng bốn khái niệm trọng tâm:

  • Kinh tế hợp tác: Hình thức liên kết kinh tế tự nguyện giữa những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh cá thể và sức mạnh tập thể để giải quyết hiệu quả các khâu sản xuất, kinh doanh và đời sống.
  • Hợp tác xã nông nghiệp: Tổ chức kinh tế tự chủ do nông dân cùng góp vốn, góp sức thành lập theo Luật Hợp tác xã năm 1996, hoạt động vì lợi ích kinh tế - xã hội của thành viên.
  • Kinh tế hộ tự chủ: Đơn vị kinh tế cơ sở có toàn quyền quyết định về đất đai giao khoán lâu dài, lao động, vốn và phân phối sản phẩm theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị.
  • Quan hệ sản xuất mới: Cơ cấu sở hữu và tổ chức quản lý đa dạng nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế hợp tác cùng kinh tế nhà nước tạo nền tảng vững chắc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp trừu tượng hóa khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo thống kê hợp tác hóa nông nghiệp năm 1989, các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa và Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 1978–1996.

Về phương pháp khảo sát thực chứng, luận văn tiến hành chọn mẫu điển cứu có chủ đích tại 106 xã nông thôn của tỉnh, tập trung phân tích sâu hai hợp tác xã thí điểm điển hình là Hợp tác xã Ninh Quang (huyện Ninh Hòa) đại diện cho vùng đồng bằng thâm canh lúa và Hợp tác xã Cam Tân (huyện Cam Ranh) đại diện cho vùng bán sơn địa trồng cây công nghiệp. Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm số liệu theo dõi chi tiết từ 300 hộ nông dân tại các tiểu vùng sinh thái khác nhau.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh đối chiếu đa chiều giữa các mốc chính sách (trước năm 1981, thời kỳ Chỉ thị 100, thời kỳ Nghị quyết 10 và sau Luật Hợp tác xã 1996) nhằm bóc tách chính xác những nguyên nhân nội tại khiến mô hình tập thể hóa kiểu cũ thất bại, từ đó lượng hóa được tác động tích cực của cơ chế tự chủ đối với động lực sản xuất của người nông dân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc thực hiện chính sách khoán sản phẩm đã tạo ra bước nhảy vọt về giải phóng sức sản xuất của nông hộ. Giai đoạn áp dụng Chỉ thị 100 (từ năm 1981) và đột phá với Nghị quyết 10 (từ năm 1988), quyền tự chủ hoàn toàn của hộ nông dân được xác lập. Nhờ đó, năng suất lúa bình quân toàn tỉnh Khánh Hòa đã phục hồi và tăng trưởng từ mức 39 tạ/ha/vụ năm 1989 lên 40,65 tạ/ha/vụ năm 1995.

Thứ hai, đời sống người nông dân Khánh Hòa chịu áp lực chênh lệch thu nhập nghiêm trọng giữa các khu vực kinh tế. Số liệu điều tra năm 1994 cho thấy thu nhập bình quân của lao động nông nghiệp chỉ đạt 130.700 đồng/tháng, thấp hơn đáng kể so với ngành lâm nghiệp (146.200 đồng), xây dựng (166.900 đồng), thương nghiệp (242.600 đồng), công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (250.700 đồng), dịch vụ (255.000 đồng), thủy sản (266.000 đồng) và vận tải (289.800 đồng). Nông nghiệp chiếm 17,81% GDP của tỉnh nhưng người dân khu vực này chịu mức sống thấp nhất.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông thôn Khánh Hòa còn rất lạc hậu và thiếu đồng bộ. Năng lực huy động của các công trình thủy lợi toàn tỉnh mới chỉ đáp ứng được 36,05% diện tích gieo trồng. Toàn tỉnh chỉ có 27,4% số xã có trạm bơm điện phục vụ tưới tiêu, 60,4% số xã có trạm biến thế, 61,3% số xã có lưới điện sinh hoạt và 13,2% số xã có nhà hộ sinh. Trang thiết bị cơ giới hóa nông nghiệp toàn tỉnh trong giai đoạn khảo sát chỉ đạt 7.529 máy bơm nước, 337 máy tuốt lúa và 64 máy nghiền thức ăn gia súc.

Thứ tư, mô hình hợp tác xã kiểu cũ thời kỳ 1978–1980 tại Khánh Hòa rơi vào khủng hoảng sâu sắc do vi phạm nguyên tắc quản trị. Việc áp đặt tập thể hóa ồ ạt, duy trì chế độ phân phối bình quân theo công điểm, quan liêu trong chỉ huy sản xuất đã triệt tiêu động lực lao động. Sau khi xóa bỏ bao cấp, phần lớn các hợp tác xã bị tê liệt, giải thể hoặc rơi vào tình trạng hoạt động hình thức, để lại gánh nặng nợ nần và khoảng 25.000 lao động nông thôn thiếu việc làm ổn định.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  SO SÁNH THU NHẬP THEO NGÀNH NĂM 1994                   |
|                        (Đơn vị: đồng/người/tháng)                       |
+------------------------------------+------------------------------------+
| Ngành nghề                         | Thu nhập bình quân                 |
+------------------------------------+------------------------------------+
| Vận tải                            | 289.800                            |
| Thủy sản                           | 266.000                            |
| Dịch vụ                            | 255.000                            |
| Công nghiệp - TTCN                 | 250.700                            |
| Thương nghiệp                      | 242.600                            |
| Xây dựng                           | 166.900                            |
| Lâm nghiệp                         | 146.200                            |
| Nông nghiệp                        | 130.700                            |
+------------------------------------+------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự suy thoái của phong trào hợp tác xã thời kỳ trước Đổi mới là việc đồng nhất kinh tế hợp tác với việc xóa bỏ kinh tế hộ gia đình, áp đặt quan hệ sản xuất vượt trước quá xa so với trình độ công cụ thủ công của lực lượng sản xuất. Bài học kinh nghiệm quốc tế được luận văn dẫn chứng cho thấy: tại Nhật Bản có tới 99,2% hộ nông dân tự nguyện tham gia hợp tác xã nông nghiệp; tại Hà Lan, hệ thống hợp tác xã tín dụng đáp ứng 90% nhu cầu tài chính và 50% phân bón cho các trang trại; tại Phần Lan, các hợp tác xã nông nghiệp cung ứng 75% lượng thịt, 92% sản lượng sữa và 50% phân bón toàn quốc.

Ở các quốc gia phát triển, hợp tác xã thành công vì đóng vai trò làm khâu dịch vụ đầu vào và đầu ra, bảo vệ nông hộ trước sự ép giá của giới tư thương độc quyền, chứ không trực tiếp điều hành lao động trên đồng ruộng. Tại Khánh Hòa, cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp gồm lương thực chiếm 36%, chăn nuôi chiếm 18,1%, trồng trọt khác chiếm 43,5% và dịch vụ nông nghiệp chỉ đạt 2.4%. Khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, việc tái cấu trúc hợp tác xã thành các thực thể làm dịch vụ thủy nông, cung ứng giống, vật tư phân bón và tiêu thụ sản phẩm là con đường duy nhất để vực dậy nền nông nghiệp địa phương. Các biểu đồ cơ cấu GDP và bảng chỉ tiêu hạ tầng nông thôn 106 xã giúp phản ánh trực quan sự cần thiết phải thiết lập các tổ hợp tác linh hoạt tại cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đổi mới và phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp tại Khánh Hòa, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Thực hiện chuyển đổi toàn diện mô hình hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 1996: Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tiến hành rà soát, phân loại 100% các hợp tác xã hiện có trong giai đoạn 1997–2000. Đối với các hợp tác xã đang hoạt động, cần tổ chức đại hội thành viên để chuyển đổi vốn, xác định tư cách xã viên tự nguyện và cơ cấu lại bộ máy quản trị theo nguyên tắc một thành viên một phiếu bầu; kiên quyết giải thể các đơn vị yếu kém chỉ còn danh nghĩa.
  • Mở rộng và nâng cao chất lượng các khâu dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ: Ban quản trị các hợp tác xã tập trung đầu tư vào 5 khâu dịch vụ trọng yếu gồm thủy lợi nội đồng, bảo vệ thực vật, cung ứng giống thuần chủng, phân bón trả chậm và chế biến tiêu thụ nông sản. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ cung ứng phân bón và giống đạt trên 60% nhu cầu nông hộ, phấn đấu đưa diện tích chủ động tưới tiêu từ mức 36,05% lên 55% vào năm 2000 thông qua việc kiên cố hóa kênh mương.
  • Thiết lập cơ chế tín dụng nội bộ và đào tạo nguồn nhân lực quản lý: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh triển khai gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ 64.260 hộ nông nghiệp tiếp cận vốn vay thâm canh; tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý tài chính, kế toán minh bạch cho 100% chủ nhiệm và cán bộ kế toán hợp tác xã nhằm chấm dứt hoàn toàn tình trạng thất thoát quỹ chung.
  • Đa dạng hóa các hình thức hợp tác liên kết sản xuất và giải quyết việc làm: Khuyến khích hình thành các tổ vần công, tổ đổi công mùa vụ, nhóm sở thích chăn nuôi - trồng trọt tại các thôn bản; thúc đẩy liên kết kinh tế giữa hợp tác xã với các doanh nghiệp quốc doanh chế biến mía đường, thủy sản để tiêu thụ nông sản ổn định, tạo việc làm mới cho khoảng 25.000 lao động dôi dư tại khu vực nông thôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách nông nghiệp: Nắm vững cơ sở lý luận và các cứ liệu lịch sử giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý để ban hành các quy định hướng dẫn chuyển đổi mô hình hợp tác xã tại địa phương theo tinh thần Luật Hợp tác xã năm 1996.
  • Ban chủ nhiệm và cán bộ quản trị hợp tác xã nông nghiệp: Tham khảo quy trình tổ chức dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ, nguyên tắc phân phối lợi nhuận theo mức độ sử dụng dịch vụ và phương pháp huy động vốn góp cổ phần từ xã viên.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế nông nghiệp: Sử dụng hệ thống dữ liệu thực chứng phong phú, khung phân tích thể chế kinh tế chuyển đổi và phương pháp đánh giá quan hệ sản xuất nông thôn Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
  • Chủ trang trại, tổ hợp tác và các nông hộ sản xuất hàng hóa: Hiểu rõ bản chất của mối quan hệ hợp tác tự nguyện, từ đó chủ động liên kết nhóm để gia tăng năng lực đàm phán mua vật tư đầu vào, tiếp cận khoa học kỹ thuật và phòng chống rủi ro ép giá từ tư thương.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao mô hình hợp tác xã nông nghiệp thời kỳ 1978–1980 tại Khánh Hòa lâm vào khủng hoảng?

Mô hình hợp tác xã thời kỳ này lâm vào bế tắc do áp dụng biện pháp hành chính gò ép nông dân vào tập thể hóa, vi phạm các nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Chế độ quản lý quan liêu bao cấp và phân phối bình quân theo công điểm triệt tiêu động lực của người lao động, khiến sản xuất suy thoái và số lượng hợp tác xã thực chất giảm mạnh.

Bản chất của hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 1996 khác gì so với mô hình cũ?

Hợp tác xã kiểu mới được định vị là tổ chức kinh tế tự chủ do các nông hộ tự nguyện góp vốn và góp sức thành lập để phục vụ chính kinh tế hộ. Khác với mô hình cũ chỉ huy tập trung toàn bộ tư liệu sản xuất, hợp tác xã kiểu mới tôn trọng tính độc lập của kinh tế hộ, chuyển sang làm các dịch vụ đầu vào và đầu ra theo cơ chế thị trường.

Kinh tế hộ gia đình phát triển có làm triệt tiêu vai trò của hợp tác xã nông nghiệp không?

Kinh tế hộ tự chủ phát triển không triệt tiêu mà trái lại tạo tiền đề vững chắc cho kinh tế hợp tác ra đời. Bản thân kinh tế hộ có những giới hạn không thể tự vượt qua như thiếu vốn lớn, không thể tự xây dựng công trình thủy nông lớn, thiếu khả năng đàm phán giá cả và tiếp cận thị trường công nghệ cao. Do đó, nhu cầu liên kết hợp tác dịch vụ là một tất yếu khách quan.

Những rào cản tự nhiên và hạ tầng nào ảnh hưởng lớn nhất đến nông nghiệp Khánh Hòa?

Nông nghiệp Khánh Hòa chịu bất lợi do diện tích đất canh tác chỉ chiếm 11,6% diện tích tự nhiên, mùa khô kéo dài chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khiến bốc hơi nước cao. Hệ thống thủy lợi thời điểm nghiên cứu mới đáp ứng được 36,05% nhu cầu, chỉ 27,4% số xã có trạm bơm điện và tỷ lệ cơ giới hóa phục vụ sản xuất còn ở mức rất thấp.

Kinh nghiệm quốc tế nào từ các nước phát triển có giá trị ứng dụng cao nhất cho Việt Nam?

Kinh nghiệm nổi bật từ Nhật Bản, Hà Lan và Phần Lan cho thấy hợp tác xã phải phát triển đa dạng theo các phân ngành dịch vụ chuyên môn hóa như tín dụng, vật tư phân bón và chế biến tiêu thụ. Hợp tác xã phải hoạt động như một liên minh bảo vệ lợi ích nông dân trước sự chi phối của tư bản thương nghiệp, tuyệt đối không can thiệp thô bạo vào hoạt động canh tác trực tiếp của hộ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và các học thuyết kinh tế quốc tế về bản chất tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi của kinh tế hợp tác trong nông nghiệp.
  • Làm rõ bức tranh thực trạng hợp tác xã nông nghiệp tại Khánh Hòa qua các thời kỳ lịch sử (1978–1980, 1981–1995 và sau 1996), chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của sự suy thoái là vi phạm quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất lực lượng sản xuất.
  • Đánh giá chính xác những rào cản hạ tầng và chênh lệch mức sống của nông dân Khánh Hòa với thu nhập bình quân chỉ đạt 130.700 đồng/người/tháng năm 1994 và công trình thủy lợi mới đáp ứng 36,05% diện tích.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: chuyển đổi mô hình theo Luật Hợp tác xã 1996, phát triển dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ, mở rộng vốn tín dụng và đa dạng hóa liên kết để giải quyết việc làm cho 25.000 lao động nông thôn.
  • Đề ra lộ trình thực hiện trọng tâm trong giai đoạn 1997–2000 nhằm chuẩn hóa năng lực cán bộ quản trị và đưa hợp tác xã trở thành bà đỡ tin cậy cho nền nông nghiệp hàng hóa tỉnh Khánh Hòa.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ chuyên trách quan tâm đến quá trình đổi mới thể chế kinh tế nông nghiệp có thể khai thác chi tiết các mô hình phân tích và dữ liệu thực chứng từ toàn văn luận văn thạc sĩ này.