CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Kinh tế Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích.[32] Khái niệm kinh tế đề cập đế các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ.
Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế. Nguyên nghĩa của khái niệm kinh tế là “kinh bang tế thế”, là các công việc mà một vị vua phải đảm nhiệm, chăm lo đời sống vật chất của bề tôi, chăm lo đời sống tinh thần của cộng đồng. Kinh nằm trong chứ Kinh bang (trị nước) và Tế nằm trong chữ Tế thế (giúp đời). Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn.
Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế. Nói đơn giản kinh tế có nghĩa là:" Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp, con người và xã hội loài người tìm cách trả lời 3 câu hỏi:" Sản xuất cái gì?” “Sản xuất như thế nào?” và “Sản xuất cho ai?" b. Phát triển Phát triển là “Khái niệm dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng đi lên, từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn”[16, tr73]. Phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là mục tiêu cơ bản và quan trọng của tất cả các quốc gia hay địa phương, đó cũng là thước đo cho về sự tiến bộ của quốc gia hay địa phương đó trong mỗi giai đoạn.
Hai khái niệm Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau, nhưng về cơ bản hai khái niệm này khác nhau. Tăng trưởng kinh tế chỉ là sự gia tăng thu nhập và sản phẩm quốc gia hay trên đầu người, hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Khi giá trị sản xuất của một quốc gia tăng lên thì quốc gia đó đạt được tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế không phải là điều kiện đủ để cải thiện mức sống chung, bởi vì sẽ sai lầm nếu cho rằng khi GDP trên đầu người cao hơn đồng nghĩa với việc thu nhập dành cho mọi người sẽ cao hơn cho tất cả mọi người hay cho phần lớn dân số trong nền kinh tế.
Điều này có những lý do sau:Thứ nhất, Chính phủ đôi khi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không chỉ để cải thiện phúc lợi cho xã hội mà còn để củng cố thế lực cho Nhà nước và giai cấp thống trị. Thứ hai, nhà nước có thể đạt mục tiêu tang trưởng lên hàng đầu, khi đó sẽ xảy ra tình trạng nguồn lực được đầu tư ồ ạt nhằm thúc đẩy tăng trưởng, khi đó sẽ gây ra những hệ lụy không tốt về mặt xã hội và môi trường như ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt. Thứ ba, thu nhập trong nền kinh tế có thể gia tăng nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc nó được phân phối một cách bình đẳng, người giàu có thể giàu hơn, người nghèo có thể nghèo hơn, khoảng cách giàu nghèo càng bị nới rộng. Trong khi đó, phát triển kinh tế “được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia”[18, tr22] hay là “Sự Luan van 8 tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo cách hiểu như vậy, về cơ bản, nội dung của phát triển kinh tế bao gồm có tăng trưởng kinh tế, sự biến đổi đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày càng tốt hơn các vấn đề xã hội. Các quốc gia có GDP tăng trưởng nhanh nhưng các chỉ tiêu về sức khỏe, giáo dục, đời sống của người dân không được cải thiện thì quốc gia đó vẫn chưa đạt được đầy đủ các yếu tố của phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, nếu thu nhập của quốc gia phần lớn tập trung trong một bộ phận nhỏ dân số hay thu nhập quốc gia được sử dụng vào các mục đích phục vụ cho quyền lợi cho giới cầm quyền và không phục vụ cho quyền lợi của người dân thì quốc gia đó vẫn chưa thực sự đạt được sự phát triển kinh tế.
Phát triển kinh tế đồng thời cũng đi kèm với những thay đổi trong cơ cấu kinh tế. Theo đó, phát triển kinh tế đồng nghĩa với việc ngày càng có nhiều người chuyển từ sản xuất Nông nghiệp sang các lĩnh vực Công nghiệp và Dịch vụ. Tăng trưởng kinh tế không đi cùng với sự thay đổi cơ cấu kinh tế thì thường là một chỉ báo thu nhập quốc gia rơi vào tay một nhóm người. Thay đổi cơ cấu kinh tế được biểu hiện qua việc tỷ trọng đóng góp trong nền kinh tế của ngành Nông nghiệp giảm xuống, đồng thời tỷ trọng của ngành Công nghiệp và Dịch vụ tăng lên.
Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế không phải là tăng trưởng kinh tế hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa đói giảm nghèo, cải thiện sống cho người dân, nâng cao phúc lợi xã hội về các dịch vụ y tế, giáo dục v.v… Tất cả những tiêu chí về tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ không có ý nghĩa nếu những thành tựu của quá trình đó không được sử dụng vào mục đích phục vụ chính đời sống của đại bộ phận người dân trong nền kinh tế quốc dân. Ý nghĩa của phát triển kinh tế Phát triển kinh tế làm tăng thu nhập cho nền kinh tế. Quá trình phát triển kinh tế trước hết gắn liền với tăng trưởng kinh tế, có nghĩa là giá trị sản xuất, giá trị tổng sản phẩm quốc nội, tổng sản phẩm quốc dân, thu nhập quốc dân cũng như thu nhập bình quân đầu người qua từng năm tăng. Qua đó, quá trình phát triển kinh tế làm tăng thu nhập cho nền kinh tế, đồng thời quá trình phát triển kinh tế cũng là quá trình thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế đi kèm với những thay đổi trong cơ cấu kinh tế. Thay đổi cơ cấu kinh tế hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như tái cơ cấu kinh tế để đi đến kết quả tạo ra một cơ cấu tiến bộ hơn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tính chất tiến bộ của cơ cấu kinh tế là tiêu chuẩn hay chỉ báo về phát triển kinh tế của một quốc gia. Cơ cấu kinh tế được chia ra làm ba nội dung chính bao gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế.
Phát triển kinh tế tạo ra nguồn lực nhằm giải quyết các vấn đề xã hội. Quá trình phát triển kinh tế bên cạnh sự tăng trưởng kinh tế cần phải giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, bất bình đẳng trong thu nhập và cải thiện các điều kiện làm việc. Muốn giải quyết vấn đề đó trước hết phải có nguồn lực tài chính và quá trình phát triển kinh tế chính là nơi cung cấp nguồn lực đó để giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh trong nền kinh tế. Phát triển kinh tế gắn liền với sự thay đổi theo hướng tốt hơn các vấn đề xã hội.
Bên cạnh các tiêu chí đánh giá quá trình phát triển kinh tế thông qua các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế thì các tiêu chí đánh giá về tiến bộ xã hội cũng là một nhân tố quan trọng nhằm đánh giá chất lượng của quá trình phát triển kinh tế. Quá trình phát triển kinh tế tạo ra nguồn lực nhằm giải quyết các vấn đề xã hội trong nền kinh tế, và các vấn đề này phải giải quyết một cách tích cực. Quá trình phát triển kinh tế nếu phải giải quyết được các Luan van 10 vấn đề về việc làm cho người lao động, thực hiện xóa đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề bất bình đẳng thu nhập cũng như các khía cạnh khác về phúc lợi của con người như giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe v. Hoàn thiện các tiêu chí nói trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển kinh tế.
NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Gia tăng quy mô sản xuất a. Gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất Phát triển kinh tế là quá trình tăng lên về mọi mặt của các yếu tố, các bộ phận trong nền kinh tế. Trong đó sự gia tăng của các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng vai trò đặc biệt bởi vì chính các đơn vị sản xuất kinh doanh này tạo ra sản phẩm cung cấp cho nhu cầu của xã hội.
Gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất có nghĩa là số lượng các cơ sở sản xuất của các ngành kinh tế trong lãnh thổ nền kinh tế ngày càng nhiều hơn. Phải gia tăng số lượng các đơn vị sản xuất kinh doanh vì các đơn vị sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia hay địa phương. Các đơn vị sản xuất kinh doanh là đơn vị cơ sở tạo ra giá trị sản xuất, dịch vụ, tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm phục vụ đời sống kinh tế xã hội, tạo ra GDP cho quốc gia. Khi số lượng các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh tăng lên sẽ làm tăng của cải, sản phẩm cho xã hội, kéo theo sự phát triển của Khoa học – Công nghệ, mở rộng khả năng sản xuất, khả năng giải quyết việc làm cũng như tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Để gia tăng số lượng cơ sở sản xuất thì việc tạo dựng môi trường pháp lý nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh nghiệp, công ty là hết sức quan trọng.