Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hiện trạng phát triển kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo hướng bền vững" do sinh viên Đặng Thị Thu Huyền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đàm Nguyễn Thùy Dương tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 05 năm 2011). Đề tài thuộc chuyên ngành Địa lý học (chuyên hướng Địa lý Kinh tế - Xã hội), tập trung nghiên cứu thực trạng và định hướng phát triển của các ngành kinh tế biển tại một địa bàn động lực ven biển phía Nam.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài 3.260 km, hơn 1 triệu km² vùng đặc quyền kinh tế thuộc 28 tỉnh, thành phố ven biển, nằm trong nhóm 10 quốc gia có tỷ số chiều dài bờ biển trên diện tích lãnh thổ cao nhất thế giới (chỉ số biển khoảng 0,01, gấp 6 lần mức trung bình toàn cầu). Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được thành lập từ tháng 8 năm 1991, có đường bờ biển dài gần 200 km (trong đó đoạn bờ biển đất liền là 156 km) và vùng thềm lục địa rộng hơn 100.000 km². Địa phương giữ vai trò là "mặt tiền" và cửa ngõ giao thương của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trước sức ép của sự tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng dân số và nguy cơ cạn kiệt tài nguyên đất liền, yêu cầu giải quyết mối quan hệ giữa khai thác tối đa nguồn lợi biển với bảo vệ môi trường sinh thái biển để đảm bảo phát triển bền vững trở thành vấn đề cấp bách đối với tỉnh.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu hiện trạng phát triển các ngành kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  2. Đưa ra một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả các ngành kinh tế biển và đảm bảo sự phát triển bền vững.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Thu thập số liệu, tài liệu về hiện trạng phát triển các ngành kinh tế biển.
  2. Phân tích, tìm hiểu hiện trạng phát triển các ngành kinh tế biển của tỉnh.
  3. Đưa ra các định hướng và một số giải pháp phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững.
  4. Đúc kết cơ sở lý luận về các ngành kinh tế và kinh tế biển.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của các ngành kinh tế biển theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội, tập trung vào 5 lĩnh vực then chốt: khai thác dầu khí; giao thông vận tải biển và hệ thống cảng biển; du lịch biển - đảo; đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản; kinh tế đảo.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bao gồm dải đất liền ven biển, vùng nội thủy, vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế và huyện đảo Côn Đảo. Hoạt động đánh bắt hải sản được mở rộng sang ngư trường Nam Trung Bộ và Nam Bộ do tính chất di cư của nguồn lợi sinh vật biển.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu hiện trạng từ năm 1986 đến năm 2011, trong đó tập trung phân tích sâu chuỗi dữ liệu thống kê giai đoạn 2000 - 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm: Khóa luận vận dụng định nghĩa kinh tế biển của GS. Nguyễn Văn Hương (1996), phân biệt rõ hai cấp độ tiếp cận:

  • Kinh tế biển theo nghĩa hẹp: Toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trực tiếp trên biển, bao gồm kinh tế hàng hải (vận tải biển, dịch vụ cảng biển), khai thác dầu khí ngoài khơi, du lịch biển, dịch vụ tìm kiếm - cứu hộ - cứu nạn và kinh tế đảo.
  • Kinh tế biển theo nghĩa rộng: Bao gồm các hoạt động diễn ra trên biển kết hợp với các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển nằm ở dải đất liền ven biển (đóng và sửa chữa tàu biển, công nghiệp chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, dịch vụ logistics duyên hải, thông tin liên lạc biển, nghiên cứu khoa học - công nghệ biển và đào tạo nhân lực biển).
  • Phát triển bền vững: Tiếp cận theo định nghĩa của Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987) trong Báo cáo "Tương lai của chúng ta" (Our Common Future) và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio de Janeiro (1992). Phát triển bền vững đòi hỏi cân bằng đồng thời 3 trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng - an sinh xã hội và bảo vệ tính đa dạng sinh học cùng môi trường tự nhiên.

Hệ quan điểm nghiên cứu địa lý:

  • Quan điểm lãnh thổ: Xem xét các ngành kinh tế biển trong sự phân bố không gian cụ thể, phân tích mối liên hệ nội tại giữa các đơn vị hành chính trong tỉnh và mối quan hệ liên vùng với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.
  • Quan điểm hệ thống: Đặt các ngành kinh tế biển như một phân hệ kinh tế chuyên ngành nằm trong hệ thống kinh tế - xã hội tổng thể, trong đó biến động của một ngành (như dầu khí hay cảng biển) sẽ tác động dây chuyền đến các ngành phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật.
  • Quan điểm tổng hợp: Nghiên cứu sự tương tác đa chiều giữa điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên với các nhân tố kinh tế - xã hội, chính sách, nguồn vốn, công nghệ và lao động.
  • Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Xác định khai thác tài nguyên biển phải nằm trong ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái ven bờ, phòng ngừa ô nhiễm biển do chất thải công nghiệp, đô thị và sự cố hàng hải.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thống kê - toán học: Thu thập, phân loại, tính toán tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng cơ cấu và lập chuỗi biến động số liệu từ các niên giám thống kê.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đánh giá tiềm năng, đối chiếu hiện trạng và khái quát hóa các quy luật phát triển kinh tế biển của tỉnh.
  • Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Trực quan hóa không gian kinh tế, tuyến điểm du lịch, quy hoạch giao thông vận tải và cơ cấu sản lượng ngành.
  • Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế tại các địa bàn ven biển, cảng biển và cơ sở du lịch để đối chiếu, kiểm chứng nguồn số liệu báo cáo.

Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp chính thống từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, các báo cáo chuyên ngành của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Sở Giao thông Vận tải, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro và Hiệp hội Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương này tập trung chuẩn hóa hệ thống khái niệm về kinh tế biển, môi trường và phát triển bền vững, đồng thời khái quát thực trạng tài nguyên và kinh tế biển Việt Nam:

  • Khái quát tài nguyên biển quốc gia: Việt Nam có hơn 2.000 loài cá biển (hơn 100 loài có giá trị kinh tế), 15 bãi cá lớn quan trọng (12 bãi ven bờ, 3 bãi ngoài khơi); 450.000 ha rừng ngập mặn (đứng thứ hai thế giới); hơn 37 vạn ha mặt nước có khả năng nuôi thủy sản mặn - lợ; thềm lục địa có triển vọng dầu khí trên 500.000 km² với trữ lượng dự báo khoảng 10 tỷ tấn quy dầu và khoảng 3.000 tỷ m³ khí đốt; hơn 100 vị trí thuận lợi xây dựng cảng biển.
  • Thực trạng môi trường biển: Nêu rõ tình trạng giảm sút nguồn lợi cá ven bờ (trên thế giới sản lượng cá thương mại giảm 90% từ thập niên 1950, hiện tượng suy thoái 415 vùng hệ sinh thái chết); 1/4 đến 1/3 diện tích rừng ngập mặn nhiệt đới bị phá hủy do mở đầm tôm; ô nhiễm môi trường do đô thị hóa, cảng biển và rò rỉ dầu mỏ.
  • Bức tranh kinh tế biển Việt Nam:
    • Dầu khí: Bắt đầu khai thác tấn dầu thô thương mại đầu tiên năm 1986. Giai đoạn 2000 - 2004 sản lượng tăng thêm 3.760 nghìn tấn; giai đoạn 2007 - 2008 sản lượng tạm sụt giảm do sửa chữa công nghệ và điều phối khai thác bền vững. Khí tự nhiên tăng hơn 5 lần từ năm 2000 đến 2009. Ngành dầu khí đóng góp 18 - 20% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
    • Diêm nghiệp: Cả nước có 20 tỉnh thành làm muối, diện tích trên 12 nghìn ha, sản lượng 800 nghìn - 1,2 triệu tấn/năm, giải quyết việc làm cho hơn 90 nghìn lao động. Sản lượng muối công nghiệp nhìn chung suy giảm, phụ thuộc chủ yếu vào thành phần ngoài nhà nước.
    • Hàng hải: Đến cuối năm 2010, đội tàu biển quốc gia có hơn 1.600 chiếc với tổng trọng tải trên 7,1 triệu DWT (tổng dung tích gần 4,5 triệu GT). Khối lượng hàng hóa đội tàu vận chuyển tăng từ hơn 42 triệu tấn (2005) lên gần 89 triệu tấn (2010), tức tăng gần 109%. Hàng thông qua hệ thống cảng biển tăng bình quân 17%/năm.
    • Du lịch biển: Thu hút 70% lượng khách quốc tế, 50% lượng khách nội địa và mang lại 70% doanh thu toàn ngành du lịch cả nước. Ven biển có gần 1.400 cơ sở lưu trú với hơn 45.000 phòng, sử dụng 65% tổng lao động trực tiếp của ngành du lịch.
    • Khai thác thủy sản: Năm 2008, sản lượng cá biển cả nước đạt 1,47 triệu tấn (Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 38,15%, Nam Trung Bộ 30,42%, Đông Nam Bộ 14,30%). Ba tỉnh đứng đầu sản lượng khai thác là Kiên Giang (253,0 ngàn tấn), Bà Rịa - Vũng Tàu (199,1 ngàn tấn) và Cà Mau (101,3 ngàn tấn). Hoạt động khai thác tập trung 75 - 80% ở dải ven bờ.

Chương 2: Hiện trạng phát triển kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích toàn diện tiềm năng và thực trạng kinh tế biển của địa phương:

  • Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Tỉnh nằm ở tọa độ 10°20' - 10°45'B và 107°00' - 107°35'Đ (Côn Đảo ở 8°30'B và 106°03'Đ). Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam (cao 30 - 50m, 86,47% diện tích có độ dốc dưới 15°). Khí hậu cận xích đạo gió mùa, nhiệt độ trung bình 25,8 - 26,3°C, số giờ nắng 2.580 - 2.610 giờ/năm, lượng mưa 1.300 - 2.000 mm/năm (82 - 87% tập trung vào mùa mưa). Sông Thị Vải dài 30 km (đoạn qua tỉnh), rộng 300 - 400m, sâu 5 - 20m, độ mặn quanh năm 17 - 20g/l, chế độ bán nhật triều với biên độ 4 - 5m, là điều kiện lý tưởng cho cảng nước sâu. Sông Dinh dài 40 km, sâu 4 - 6m. Thổ nhưỡng có 40,74% đất đỏ vàng, 14,32% đất xám.
  • Vị thế kinh tế: Năm 2009, dân số tỉnh đạt 996,9 nghìn người, mật độ 502 người/km². Dù chỉ chiếm 0,6% diện tích và hơn 1% dân số cả nước, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cung cấp 40% sản lượng điện quốc gia, đóng góp 11% GDP và trên 30% tổng thu ngân sách cả nước. Trong nội bộ ngành công nghiệp, khai thác và chế biến dầu khí chiếm 94,5% giá trị sản lượng.
  • Hiện trạng ngành dầu khí:
    • Vùng biển tỉnh sở hữu 400 triệu m³ dầu (chiếm 93,29% trữ lượng xác minh cả nước) và trên 100 tỷ m³ khí (chiếm 16,2% cả nước), tập trung tại bể trầm tích Cửu Long (trữ lượng khai thác ~170 triệu tấn dầu, 28 - 41 tỷ m³ khí) và bể Nam Côn Sơn (tiềm năng khoảng 900 triệu tấn quy dầu, khí chiếm 60%).
    • Ngành đóng góp 40% nguồn thu ngân sách cả nước và 86,2% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Bình quân mỗi ngày khai thác hơn 40 ngàn tấn dầu thô và hơn 4 triệu m³ khí.
    • Mỏ Bạch Hổ duy trì khai thác 210.000 thùng dầu/ngày (tích lũy hơn 152 triệu tấn dầu, hơn 15 tỷ m³ khí qua 48 giếng thăm dò và 266 giếng khai thác). Mỏ Rạng Đông đạt 50.000 thùng dầu/ngày. Mỏ Sư Tử Đen đạt trên 74.000 thùng/ngày. Mỏ Nam Rồng - Đồi Mồi đưa vào khai thác thương mại ngày 26/01/2010 với hơn 700 tấn/ngày. Mỏ khí Lan Tây - Lan Đỏ (bể Nam Côn Sơn) có trữ lượng 58 tỷ m³, cung cấp bình quân 3 tỷ m³/năm trong vòng 15 năm (đủ tạo 12 tỷ kWh điện/năm).
    • Cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm Phú Mỹ gồm 5 nhà máy điện turbin khí tổng công suất 3.600 MW (40% sản lượng điện cả nước), sản xuất 800.000 tấn urê/năm, thép 2 triệu tấn/năm; KCN Đông Xuyên rộng 160 ha chuyên dịch vụ dầu khí.
    • Sản lượng dầu thô giai đoạn 2006 - 2009 có xu hướng giảm bình quân 866 tấn/năm do bảo dưỡng giếng cũ và chuyển hướng thăm dò mỏ mới; giá trị sản xuất giảm bình quân 7.702 tỷ đồng/năm theo biến động thị trường.
  • Hiện trạng ngành giao thông vận tải biển và cảng biển:
    • Quy hoạch thuộc nhóm cảng biển số 5 gồm 55 cảng (18 cảng tổng hợp/container, 37 cảng chuyên dùng) với hơn 20 km tuyến bến. Đến thời điểm nghiên cứu đã vận hành 21 cảng với tổng công suất 45 triệu tấn/năm (khu vực Cái Mép - Thị Vải: 12 dự án công suất 57,5 triệu tấn; khu vực Vũng Tàu - Long Sơn: 8 dự án công suất 2,5 triệu tấn; Côn Đảo: cảng Bến Đầm công suất 0,1 triệu tấn).
    • Đang triển khai xây dựng 12 dự án với tổng vốn đầu tư 54.000 tỷ đồng và chuẩn bị đầu tư 15 dự án với tổng mức 62.543 tỷ đồng.
    • Đến ngày 21/3/2011, sản lượng hàng thông qua hệ thống cảng đạt 10,029 triệu tấn (hàng lỏng 2,138 triệu tấn; hàng khô 2,769 triệu tấn; hàng container 1,135 triệu tấn; hàng quá cảnh 3,987 triệu tấn) và đón 21.824 lượt khách.
    • Giai đoạn 2006 - 2009, khối lượng hàng vận chuyển bằng đường biển của tỉnh tăng 315 nghìn tấn (chiếm trên 40% tổng khối lượng vận tải toàn tỉnh); khối lượng khách vận chuyển tăng 244 nghìn người, luân chuyển khách tăng hơn 1,4 lần.
    • Cảng Tân Cảng - Cái Mép (khai thác từ 03/06/2009, bến dài 300m, công suất 600.000 TEU) và Cảng quốc tế SP-PSA (vốn 240 triệu USD, công suất 1,1 triệu tấn/năm giai đoạn 1) đã đón tàu container tải trọng 80.000 - 110.000 DWT đi thẳng sang Bắc Mỹ và Châu Âu, rút ngắn hành trình 3 - 4 ngày/chuyến mà không cần trung chuyển qua Singapore hay Hồng Kông. Cảng tổng hợp Bà Rịa - Serece năm 2010 thông qua 5,2 triệu tấn hàng hóa.
  • Hiện trạng ngành du lịch biển:
    • Toàn tỉnh có 72 km bờ biển có bãi tắm đẹp (Bãi Sau, Bãi Trước, Bãi Dâu, Bãi Dứa, Thùy Dương, Hồ Tràm, Hồ Cốc, Đất Dốc, Bãi Cạnh...). Đến tháng 11/2010, tỉnh có 162 cơ sở khách sạn/resort đang kinh doanh với 6.000 phòng (77 cơ sở xếp hạng 1 - 5 sao với 4.252 phòng; 40 cơ sở đạt chuẩn kinh doanh lưu trú với 994 phòng).
    • Lượng khách du lịch bình quân đạt hơn 6 triệu lượt/năm; từ đầu năm 2010 đến tháng 3/2011 đón hơn 8 triệu lượt khách (gần 300 ngàn lượt khách quốc tế). Doanh thu du lịch tăng từ 960 tỷ đồng (năm 2007) lên 1.780 tỷ đồng (năm 2010), tức tăng gần 2 lần. Khách nội địa chiếm tỷ trọng chủ đạo (trên 80%).
  • Hiện trạng ngành thủy sản:
    • Vùng biển tỉnh có 661 loài cá, 35 loài tôm, 23 loài mực; trữ lượng cho phép khai thác tối đa 150.000 - 170.000 tấn/năm. Tiềm năng diện tích nuôi thủy sản mặn - lợ đạt 13.559 ha (nước lợ 5.000 ha, đất rừng ngập mặn kết hợp 5.972 ha, đất lúa nhiễm mặn chuyển đổi hơn 1.000 ha, eo vịnh 600 ha), tập trung tại Tân Thành (>6.800 ha), Vũng Tàu (>3.300 ha).
    • Giai đoạn 2006 - 2009, giá trị sản xuất thủy sản tăng hơn 3 lần, trong đó khai thác biển tăng 3,5 lần. Tuy nhiên ngành bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng: hoạt động khai thác chiếm trên 90% giá trị, trong khi nuôi trồng chiếm tỷ trọng rất thấp và sản lượng thiếu ổn định.

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển các ngành kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Nội dung chương 3 khái quát đường lối phát triển và đề xuất các nhóm giải pháp chuyên ngành:

  • Định hướng chung: Bám sát Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V (nhiệm kỳ 2010 - 2015). Đặt mục tiêu phát triển hệ thống cảng biển nước sâu và dịch vụ hậu cần cảng (logistics) trở thành động lực kinh tế mới thay thế dần vị thế độc tôn của khai thác dầu khí; xây dựng địa phương thành trung tâm công nghiệp năng lượng, cảng trung chuyển quốc tế và đô thị du lịch biển hiện đại.
  • Giải pháp phát triển từng ngành:
    • Ngành dầu khí: Đẩy mạnh liên doanh thăm dò mở rộng các lô mới tại bể Cửu Long và Nam Côn Sơn; ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm giảm áp lực suy giảm cơ học tại mỏ Bạch Hổ; hoàn thành dự án Nhà máy lọc dầu Long Sơn để khép kín chuỗi hóa dầu; mở rộng diện tích KCN dịch vụ dầu khí Đông Xuyên.
    • Ngành cảng biển và vận tải biển: Tập trung vốn hoàn thành dứt điểm 12 dự án cảng đang thi công và 15 dự án đang chuẩn bị đầu tư; nạo vét và nắn luồng luồng hàng hải sông Thị Vải - Cái Mép để nâng công suất thông qua luồng lên 120 - 300 triệu tấn/năm; đầu tư hạ tầng giao thông đường bộ, đường sắt kết nối liên vùng nối cảng với Đồng Nai và TP.HCM.
    • Ngành thủy sản: Điều chỉnh cơ cấu sản xuất, giảm dần áp lực đánh bắt thủy sản ven bờ, khuyến khích hiện đại hóa tàu thuyền công suất lớn vươn khơi xa; khai thác hiệu quả 13.559 ha diện tích mặt nước lợ và rừng ngập mặn để phát triển nuôi trồng hải sản xuất khẩu có giá trị cao nhằm cân đối tỷ trọng với khai thác.
    • Ngành du lịch biển: Tận dụng hành lang ven biển Vũng Tàu - Long Hải - Phước Hải - Bình Châu; xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái đặc thù tại Vườn Quốc gia Côn Đảo và Khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu; khai thác lễ hội truyền thống (Dinh Cô, Nghinh Ông, Trùng Cửu); kiểm soát tính thương mại hóa, nâng cấp chất lượng cơ sở lưu trú và quảng bá quốc tế.
    • Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai: Xử lý triệt để nước thải công nghiệp và nước thải đô thị trước khi xả ra lưu vực sông Thị Vải và vịnh Gành Rái; thiết lập quy chế ứng phó sự cố tràn dầu ngoài khơi và tại các bến phao xuất dầu; bảo vệ diện tích rừng ngập mặn và hệ sinh thái rạn san hô Côn Đảo trước các hoạt động san lấp ven bờ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa thành công các số liệu phát triển kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2000 - 2010 thông qua các bảng thống kê và số liệu thực chứng.

Chỉ tiêu kinh tế Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Vị thế so với cả nước / Đặc điểm số liệu
Đóng góp kinh tế chung (2009) 11% GDP cả nước; >30% thu ngân sách Cung cấp 40% sản lượng điện quốc gia; diện tích 0,6%, dân số ~1%
Trữ lượng dầu khí xác minh 400 triệu m³ dầu; >100 tỷ m³ khí Chiếm 93,29% dầu và 16,2% khí tự nhiên toàn quốc
Quy mô công nghiệp dầu khí >40.000 tấn dầu thô/ngày; >4 triệu m³ khí/ngày Chiếm 94,5% giá trị công nghiệp tỉnh; 40% ngân sách cả nước
Tổ hợp Khí - Điện - Đạm Phú Mỹ 5 nhà máy điện turbin khí (3.600 MW) Cung ứng 40% sản lượng điện toàn quốc; 800.000 tấn urê/năm
Quy mô hệ thống cảng biển 21 cảng đang vận hành (công suất 45 triệu tấn/năm) Quy hoạch 55 cảng; đón tàu container đến 110.000 DWT đi thẳng Âu - Mỹ
Hàng hóa thông qua cảng (đến 21/3/2011) 10,029 triệu tấn hàng; 21.824 lượt khách Hàng quá cảnh 3,987 tr.tấn; hàng khô 2,769 tr.tấn; hàng lỏng 2,138 tr.tấn
Lưu trú và du khách (2010) 162 khách sạn/resort (6.000 phòng) Đón >8 triệu lượt khách (đầu 2010 - 3/2011); doanh thu 1.780 tỷ đồng
Khai thác thủy sản (2008) 199,1 ngàn tấn cá biển Đứng thứ 2 cả nước (sau Kiên Giang 253,0 ngàn tấn); khai thác chiếm >90% giá trị ngành

Đóng góp chính của khóa luận:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân loại kinh tế biển (theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng) gắn với đặc thù phát triển bền vững dưới góc nhìn địa lý kinh tế.
  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, chi tiết về tiềm năng tự nhiên (đặc tính luồng lạch sông Thị Vải, thềm lục địa, trữ lượng dầu khí hai bể Cửu Long và Nam Côn Sơn).
  • Chỉ ra cụ thể 3 điểm nghẽn nội tại của kinh tế biển địa phương: sản lượng khai thác dầu thô có xu hướng suy giảm cơ học; cơ cấu ngành thủy sản mất cân đối nghiêm trọng khi phụ thuộc tới hơn 90% vào khai thác tự nhiên ven bờ; nguy cơ quá tải môi trường sinh thái sông Thị Vải và vùng ven biển do áp lực phát triển công nghiệp và cảng biển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Tác giả tự nhận định công trình còn gặp hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu thực tế. Do thời điểm thực hiện vào đầu năm 2011, các số liệu về dự án cảng biển đang trong giai đoạn xây dựng (12 dự án) và chuẩn bị đầu tư (15 dự án), cũng như quy hoạch kinh tế - xã hội đến năm 2015 và 2020 chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu dự báo của chính quyền địa phương. Mặt khác, khóa luận chưa tách bạch thành một chương riêng cho mảng kinh tế đảo Côn Đảo mà lồng ghép vào các phân ngành chung.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi và đánh giá hiệu quả khai thác thực tế của cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải sau khi hoàn thành toàn bộ các giai đoạn đầu tư; nghiên cứu lượng hóa tác động môi trường của các khu công nghiệp hạ nguồn dầu khí và dự án lọc hóa dầu Long Sơn đối với diện tích rừng ngập mặn và chất lượng nguồn nước lưu vực sông Thị Vải.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với:

  • Sinh viên và học viên cao học các ngành Địa lý học, Địa lý Kinh tế - Xã hội, Kinh tế biển, Quản lý tài nguyên và môi trường, Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng.
  • Người nghiên cứu các đề tài về kinh tế vùng, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ven biển hoặc chiến lược phát triển bền vững tại Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
  • Phần có giá trị tham khảo cao nhất: Toàn bộ Chương 2, đặc biệt là các phân tích định lượng về trữ lượng các mỏ dầu khí (Bạch Hổ, Đại Hùng, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Lan Tây - Lan Đỏ), thông số kỹ thuật của luồng tàu sông Thị Vải phục vụ xây dựng cảng nước sâu và danh mục thống kê các dự án cảng biển thuộc nhóm số 5 trên địa bàn tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận lượng hóa vai trò kinh tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với cả nước bằng những số liệu nào? Theo số liệu năm 2009 được tác giả trích dẫn, dù chỉ chiếm 0,6% diện tích tự nhiên và hơn 1% dân số cả nước, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tạo ra 11% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đóng góp trên 30% tổng thu ngân sách quốc gia và cung cấp 40% sản lượng điện năng toàn quốc (nhờ tổ hợp Khí - Điện - Đạm Phú Mỹ với công suất 3.600 MW).

2. Tiềm năng và thực trạng ngành khai thác dầu khí của tỉnh được văn bản ghi nhận ra sao? Vùng biển của tỉnh chiếm 93,29% trữ lượng dầu (400 triệu m³) và 16,2% trữ lượng khí (>100 tỷ m³) đã xác minh của cả nước. Hằng ngày, tỉnh khai thác hơn 40 ngàn tấn dầu thô và hơn 4 triệu m³ khí. Công nghiệp dầu khí đóng góp tới 86,2% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh và chiếm 40% tổng thu ngân sách cả nước.

3. Vì sao sông Thị Vải được đánh giá là điều kiện tự nhiên vượt trội để xây dựng hệ thống cảng nước sâu? Đoạn sông Thị Vải chảy qua tỉnh dài 30 km, rộng 300 - 400m, lòng sông sâu tự nhiên từ 5 đến 20m, ít bị bồi lắng, nước mặn quanh năm (độ mặn 17 - 20g/l). Sông có chế độ bán nhật triều với biên độ triều đạt 4 - 5m, cho phép tàu trọng tải lớn từ 40.000 đến 60.000 DWT (và các bến Cái Mép đón tàu container đến 110.000 DWT) ra vào thuận lợi cả ngày lẫn đêm.

4. Điểm mất cân đối lớn nhất trong nội bộ ngành thủy sản của địa phương là gì? Trong giai đoạn 2006 - 2009, dù tổng giá trị sản xuất ngành thủy sản tăng hơn 3 lần nhưng có sự mất cân đối sâu sắc: khai thác hải sản chiếm trên 90% giá trị toàn ngành (sản lượng khai thác cá biển năm 2008 đạt 199,1 ngàn tấn, đứng thứ hai cả nước), trong khi nuôi trồng thủy sản mặn - lợ chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, sản lượng bấp bênh và chưa khai thác tương xứng với 13.559 ha diện tích mặt nước tiềm năng.

5. Lợi thế nổi bật của cảng Tân Cảng - Cái Mép đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam là gì? Cảng chính thức đưa vào khai thác từ ngày 03/06/2009, tiếp nhận được tàu trọng tải lên đến 110.000 DWT. Lợi thế lớn nhất là mở được tuyến vận tải biển trực tiếp từ Việt Nam sang Hoa Kỳ và các nước Châu Âu mà không cần phải trung chuyển qua các cảng trung gian trong khu vực (như Singapore hay Hồng Kông), qua đó rút ngắn lịch trình vận chuyển từ 3 đến 4 ngày mỗi chuyến và giảm chi phí logistics cho hàng hóa xuất khẩu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Thu Huyền đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ bức tranh địa lý kinh tế biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong giai đoạn phát triển bản lề 2000 - 2010. Công trình khẳng định vị thế chiến lược của địa phương như một trung tâm năng lượng, công nghiệp lọc hóa dầu và cảng biển nước sâu tầm cỡ quốc tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Đồng thời, việc nhận diện rõ nét các xung đột về môi trường sinh thái và sự mất cân đối trong ngành thủy sản giúp khóa luận đề xuất các định hướng giải pháp mang tính thực tiễn cao nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển.