CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm về kinh tế biển Kinh tế biển đóng vai trò ngày càng quan trọng. Chính vì thế định nghĩa thế nào là kinh tế biển là việc làm rất có ý nghĩa Trước tiên kinh tế biển phải được xác định bằng cách tách ra giữa hoạt động biển và phi biển. Theo giáo sư Nguyễn Văn Hương (tạp chí hoạt động khoa học- kỹ thuật-số 5 năm 1996) đã viết :" Kinh tế biển là lĩnh vực bao trùm nhiều ngành hoạt động liên quan đến biển như: thủy sản, du lịch, giao thông vận tải, dầu khí.
nhằm khai thác toàn bộ lợi ích mà biển có thể mang lại để phát triển đất nước." Như vậy chúng ta có thể hiểu đơn giản: kinh tế biển là những hoạt động kinh tế đựa trên việc khai thác các nguồn tài nguyên và môi trường biển. Có 2 quan niệm khác nhau về kinh tế biển. Khái niệm theo nghĩa hẹp Là toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, chủ yếu gồm: 1. Kinh tế Hàng hải (Vận tải biển và Dịch vụ cảng biển) 2.
Khai thác Dầu khí ngoài khơi 4. Du lịch biển 5. Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn 7, Kitế nhđảo. Khai niệm theo nghĩa rông Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển, tuy không phải diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này là nhờ vào yếu tế biển gián tiếp hoặc Trang I1 trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất lién ven biển.
Vì vậy ngoài các ngành kinh tế biển theo nghĩa hẹp còn bao gồm: - Đóng và sửa chữa tàu biển (hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh vực kinh tế hàng hải) - Công nghiệp chế biến dầu, khí - Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản - Cung cắp dịch vụ biển ~ Thông tin liên lạc (biển) - Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển. Có thé coi cách hiểu kinh tế biển bao gồm cả các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển ở dai đất liền ven biển là quan niệm về kinh tế biển theo nghĩa rộng. Khái niệm môi trường và phát triển bền vững Có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường. Khái niệm môi trường được định nghĩa là toàn bộ các điều kiện bao gồm những yếu tố không sống (các vật chất hóa học, năng lượng.) và các yếu tố sống (vật dữ, con mỗi, vật ký sinh.) có tác động lên đời sống sinh vật hoặc một hệ thống đặc trưng khác.
Môi trường tự nhiên là bộ phận hợp thành của môi trường sống và sản xuất của loài người, là bộ phận của môi trường xung quanh. Môi trường tự nhiên bao gồm toàn bộ các đối tượng thiên nhiên sống và không sống bao quanh con người, các đối tượng không chịu ảnh hưởng của hoạt động con người, những đối tượng đã chịu những biến đổi ở những mức độ khác nhau, nhưng phần nào hay hoàn toàn còn giữ được khả năng tự phát triển. Phát triển bên vững Định nghĩa về sự phát triển bền vững được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1987 bởi ủy ban Thế giới về môi trường và phát triển WCED trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” và định nghĩa này hiện nay ding phổ biển nhất. Phát triển bền vững là sự Trang 12 phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm thiệt hại dến khả năng của các thé hệ tương lai được thỏa mãn các nhu cầu của chính họ.
Tiếp sau định nghĩa này, người ta còn đưa ra hàng loạt các định nghĩa khác nhau về sự phát triển bền vững. Chẳng hạn, chỉ 2 năm sau khi định nghĩa của WCED được đưa ra, người ta đã liệt kê được 140 định nghĩa khác nhau về sự phát triển bền vững, như: phát triển bền vững được hiểu là sự cải thiện chất lượng cuộc sống con người trong phạm vi khả năng chịu đựng được của các hệ sinh thái. Tại hội nghị thượng đỉnh Trái đất ở Riode gian nê rô (Braxin) năm 1992, gần 180 nước đã thảo luận về nguyên tắc làm thế nào để đạt được sự phát triển bẻn vững. Một kế hoạch hành động toàn diện được gọi là chương trình nghị sự 21 cũng đã được thông qua.
Đây là một văn kiện đồ sộ gồm 40 chương nhằm cụ thể hóa các quan điểm nêu trong bản tuyên ngôn Rio, bản “ Tuyên bố về những nguyên tắc quản lý rừng bền vững”, “ Công ước về sự thay đổi khi hậu toàn cầu”, và “ Công ước về sự đa dạng sinh học”. MỘT SO VAN DE MOI TRƯỜNG BIEN 1. Tình trạng giảm sút nguồn lợi ven bờ Biển cung cấp cho con người nguồn thực phẩm phong phú, đa dạng từ sinh vật biển. Tuy nhiên có nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Các nhà khoa học tính rằng trên Thế giới có gần 20 nghìn loài cá, trong đó 9 nghìn loài đang được khai thác, nhưng chỉ có 22 loài được đánh bắt thường xuyên với khối lượng lớn. Chỉ tính 6 nhóm là: các trích, cá tuyết, cá háo, cá hồi đỏ, cá thu và cá ngừ đã chiếm tới gan 2/3 tổng sản lượng đánh bắt hang năm. Nguồn lợi từ biển cho phép đánh bắt tối đa là 100 triệu tấn /năm. Trung Quốc chiếm đến 60% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Tây bắc Thái Bình Dương, vượt xa Pêru.
Pêru là nước chịu ảnh hưởng của việc đánh bắt quá mức, khi sản lượng cá cơm đã giảm 75% trong thời gian 1970-1973. Và đây là ví dụ điển hình cho thấy nguồn lợi của biển không phải là vô tận. O nhiễm biển làm 1/3 sé loài san hô có nguy cơ tuyệt chủng, 415 vùng hệ sinh thái “chết", số lượng cá ngừ, cá mập giảm. Chỉ còn một phần tư diện tích Đại dương giữ lại được những đặc tính như ban đầu.
Từ những năm 50 của thế kỷ trước đến Trang 13 nay, trữ lượng các loài cá có giá trị thương mại cao, như cá ngừ, cá hỏi, cá tuyết, cá mũi kiếm và cá đuối đã giảm đến 90%. Ở miền Bắc Đại Tây Dương, trong vòng một thé ky, các loài cá tuyết, cá po-lắc. Suy thoái các hệ sinh thái ven biển Trong vấn dé sử dụng tài nguyên biển và vùng ven biển, vin đề nóng bỏng nhất là ở các vùng nước ven bờ. Các hệ sinh thái ở vùng nước này chiếm hơn 1⁄4 năng suất sinh học của biển và cung cấp gần toàn bộ sản lượng cá biển của toàn Thế giới.
Đối với đời sống của biển cả và của con người, các hệ sinh thái ven biển rất quan trọng. Trong đó nỗi lên là các hệ sinh thái đầm lầy ngập mặn ở vùng ôn đới, rừng ngập mặn ở vùng nhiệt đới, các hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái rạn san hô. Các hệ sinh thái ven biển đang bị de doa xuống cấp do hoạt động kinh tế của con người ngày càng tập trung ra vùng ven biển, cùng với sức ép dân sé ở vùng ven biển. Việc “ khẩn hoang ven biển” để xây dựng các đô thị ven biển, các cảng biển.
đã phá huỷ một số kiểu hệ sinh thái ven biển như các thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rạng san hô. Ở nhiều nước nhiệt đới như ở Châu Á, Trung Mỹ, Nam Mỹ khoảng từ 1⁄4 đến 1/3 diện tích rừng ngập mặn đã bị phá huỷ để làm các đầm tôm. Còn ở Đông Phi rừng ngập mặn bị phá huỷ để lấy củi hay gỗ xây dựng. Các rạn san hô bị huỷ hoại ở nhiều vùng biển nhiệt đới.
Tình trạng ô nhiễm môi trường biển Sự phát triển các đô thị, các cảng biển phân bế tập trung ở ven các vịnh biển, các cửa sông làm cho nhiều vũng vịnh nỗi tiếng trên Thế giới đã bị ô nhiễm nặng do nước thải đô thị. Các chất thải từ tàu thuyền trên hệ thống cảng biển do chưa kiểm soát chặt chẽ cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Thậm chí việc quai đê lin biển ở một số vùng cửa sông, ven bờ đã làm thay đổi dong chảy và có nguy cơ xói lở ở các vùng khác. Tình trạng ngập lụt ở các vùng ven biển do chặt phá rừng bừa bãi, làm đảo lộn các hệ sinh thái.
Môi trường biển còn chịu tác động của hoạt động công nghiệp dọc theo các tuyến sông ven biển, đảo. Chất thải sinh hoạt, công nghệp không được xử lý hoặc Trang 14 xử lý chưa triệt để xả thẳng ra sông và biển. Biển là nơi cuối cùng phải gánh chịu hậu quả. Các dòng sông mang hoá chất nông nghiệp từ các đồng ruộng ra biển.
Các loại thuốc trừ sâu không dễ bị phân huỷ, vì thế gây ô nhiễm kéo đài ở vùng ven biển và đi vào chuỗi dinh đường, tích tụ lại trong co thể sinh vật. Các dòng biển lại mang chất ô nhiễm phát tán rộng hơn. Đại dương Thế giới còn bị 6 nhiễm dau, nhất là do thăm dò, khai thác và vận chuyển dầu mỏ. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIEN KINH TE BIEN Ở VIỆT NAM 1.
Các điều kiện để phát triển kinh tế biển 1. Vị trí chiến lược của biển - nhân tố địa lợi đặc biệt của sự phát triển Việt Nam nằm ở rìa Biển Đông, vùng biển có vị trí địa kinh tế, chính trị đặc biệt quan trọng và từ lâu đã là nhân tố không thé thiếu trong chiến lược phát triển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một sế cường quốc khác trên Thế giới. Việt Nam có lợi thế là vùng biển nằm ngay trên một số tuyến hàng hải chính của quốc tế qua Biển Đông, Bờ biển Việt Nam lại rất gần các tuyến hàng hai đó nên rit thuận lợi trong việc phát triển giao thương quốc tế. Hiện nay, hầu hết khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và một phần giao lưu nội địa của nước ta được vận chuyển bằng đường biển trên biển Đông.
Trong một vài thập ký tới, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của các nước trong khu vực, khối lượng hàng hóa vận chuyến qua biển Đông sẽ tăng gấp hai, ba lần hiện nay. Khi đó biển Đông nói chung và vùng biển Việt Nam nói riêng càng có vai trò to lớn trong thương mại Thế giới. Vùng biển Việt Nam sẽ trở thành chiếc chu nối quan trọng để phát triển thương mại quốc tế và mở rộng giao lưu với các nước trong khu vực và trên Thế giới. Các nguồn tài nguyên biển có khả năng khai thác lớn, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế *Tài nguyên sinh vật biển Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực.