CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE BIỂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN.1 Khái niệm biển Trong cuốn sổ tay thuật ngữ địa lý (NXBGD xuất bản 2001) của NGUYEN DƯỢC - TRUNG HAI có định nghĩa biển như sau : “ Biển là bộ phận của đại đương, nằm ở gắn hoặc xa đất lién nhưng có những đặc điểm riêng khác với vùng nước của đại dương bao quanh (như về nhiệt độ, độ mặn. các vật liệu trầm tích đáy. Theo thói quen, thuật ngữ biển còn dùng để gọi những hồ có diện tích rất lớn như : biển Aran, biển Caxoi, biển Chết. Vai trò của biển : Biển và đại đương từ xa xưa đã có nhiều ý nghĩa to lớn trong tự nhiên cũng như trong cuộc sống con người.
Biển là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho quá trình tuần hoàn thủy văn, góp phần điều hòa khí hậu. Đây cũng là nơi cung cấp nguồn hải sản phong phú cho các ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến để xuất khẩu. Biển và đại dương cũng là các cầu nối lién các lục địa tức là có ý nghĩa vé giao thông vận tải biển và đặc biệt là phát triển các cảnh quan du lịch và trung tâm du lịch. một ngành kinh tế mới đang trở thành một ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tếở mỗi địa phương.
Đặc biệt chẳng bao lâu nữa biển và đại dương còn là nơi cư trú -_ và sản xuất cho con người nhất là từ khi Liên Hiệp Quốc đã lấy năm 1998 là năm quốc tế Đại Dương và coi Đại dương như là một di sản chung của toàn nhân loại. Biển Đông là một biển lớn mà tài nguyên hết sức phong phú, ngoài ra nó còn có ý nghĩa về an ninh quốc phòng. Tóm lại : Biển Đông có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế và phục vụ đắc lực cho cuộc sống của con người. Trong tương lai con người sống với biển.
vươn xa ra biển lúc đó Biển Đông sẽ là cơ sở vững chắc cho ngành kinh tế biển. Bên cạnh việc khai thác nguồn Idi Biển Đông cũng cẩn phải chú ý đến việc khai thác cho hợp lý để bảo vệ nguồn tài nguyên biển. Đồng thời bảo vệ và giữ gìn môi trường sinh thái. SVTH : Nguyễn Thị Nga Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : HOANG XUAN DONG Il.
Kinh tế biển. Khái niệm kinh tế biển. Kinh tế biển là một ngành còn mới mẻ đôi với nước ta. việc nhận thức kinh tế hiển còn có nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau.
Xác định được các ngành kinh tế biển có ý nghia rất quan trong trong việc phát triển kinh tể. Theo giáo sư NGUYEN VAN HUONG (tap chí hoạt động khoa học kỹ thuật ra số § năm 1996) có định nghĩa về kinh tế biển như sau : * Kinh tế biển là một Tinh vực bao trùm gồm nhiều ngành hoạt đông liên quan đến biển như : thủy sản. giao thông vận tải, đấu khí. nhằm khai thác toàn bộ lợi ích mà biển có thể mang lụi để phát triển đất nước TM.
Phân loại : Kinh tế biển gồm nhiều ngành : Thủy sản, du lich, giao thông vận tải biển, dầu khi. + Mỗi ngành lại chia ra : © Ngành thủy sản trong lĩnh vực nông - ngư nghiệp. e Du lịch, giao thông vận tải biển trong lĩnh vực dich vụ. Ngoài ra giao thông vận tải biển cũng thuộc lĩnh vực giao thông vận tải.
+ Dựa vào điều kiện lịch sử mà ngừơi ta phân ra : « Ngành thủy sản, giao thông vận tải biển thuộc ngành kinh tế truyền thống, có từ lâu. e Ngành du lịch dịch vụ biển là ngành nghé mới đang được khai thác. Việc phân lọai kinh tế biển có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý, quy hoạch và đầu tư một cách dé dàng có sự phát triển tổng hợp không coi nhẹ ngành nào. Vị trí, vai trò của biển đối với tinh Khánh Hòa.
Khánh Hòa nim ở vùng cực Nam Trung Bộ, phía Đông là Biển Đông với bờ biển dài 385 km tính theo mép nước ven đảo.Diện tích vùng biển bao gdm từ đường đẳng sâu 200 m trở vào gấp hơn 2 ln diện tích lục địa bằng 10. Là một tỉnh cực Đông của Tổ quốc. tới kinh độ 109220Ð ngang với đảo Hải Nam (Trung Quốc) nghĩa là cách điểm cực tây (Nghệ An) tới trên 350 km - Đây là một vị trí thuận lợi tiến ra có thể khai thác nguồn lợi Biển Đông, lùi lại có thể trấn giữ và bảo vệ dải ven biển. SVTH : Nguyễn Thị Nga Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : HOÀNG XUAN DUNG Các đảo ven bờ và vịnh như vịnh Cam Ranh.
vịnh Vân Phong, dim Nha Phu. Thủ Triểu là những vị trí hết sức thuận lợi cho nghề cá ven bờ, phát triển du lịch biển. đường thủy nội địa- có quần đảo Trường Sa- một vùng san hô đẩy tiểm năng và triển vọng vươn ca làm chủ biển khơi. Tổng trữ lượng hải sản của Khánh Hòa khoảng 150.000 tấn trong đó chủ yếu la cá nổi chiếm 70%.
Qua những năm đổi mới và đặc biệt là 5 năm của nhiệm kỳ 13 của tinh Đảng bỏ - với sự nổ lực phấn đấu của nhân dan, kinh tế biển của Khánh Hòa có bước ting đáng kẻ đang phát huy vai trò to lớn trong nền kinh tế của tỉnh. Cơ cấu kinh tế biển din dẫn hình thành với một số ngành mũi nhọn như thủy sin. vận tải biển. du lịch biển đã tạo ra 1I- 13 GDP toàn tỉnh và chiếm 50 = 55% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh, giải quyết việc làm cho trên 150.000 lao động — cơ sở hạ tang bước đầu hình thành.
các thành phẩn kinh tế ~ xã hội kết hợp với quốc phòng an ninh đã xuất hiển bộ mặt nông thôn tiến bộ hơn trước. đặc biệt nhiều đảo xa đất liền đã có điện lưới quốc gia như đảo Bình Ba, Khải Lương. bán đảo Dim Môn. SVTH : Nguyễn Thị Nga Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : HOANG XUAN DONG CHUONG 2: TONG QUAN VE TINH KHANH HOA I.
Vị tri địa lý. Trên tấm bản đỗ Việt Nam với dai đất lién hình chữ S kéo dài từ Bắc đến Nam. Tinh Khánh Hòa nằm ở phẩn cong vươn xa nhất ra biển Đông. Cùng với đất liền.
Khánh Hòa còn có thém lục địa, vùng lãnh hải rộng lớn và hơn 100 đảo lớn nhỏ nằm rải rắc trên đất liền và hải đảo Khánh Hòa nằm ở cực Đông của Việt Nam. Phần đất liền của tình Khánh Hòa có hình dang phình ra ở giữa, hai đầu thon lại, ba mặt là núi, phía Đông giáp biển, phía Bắc giáp Phú Yên, phía Nam giáp Ninh Thuận. phía Tây giáp Đắc Lắc và Lam Đồng. tọa độ địa lý từ vĩ tuyến 1194550 B ~- 12°525 B và kính tuyến 10§”4030 Ð ~ 109°27 55 D.
Với điện tích 5258 kmỶ cùng với vùng biển, đảo rộng lớn. số dân theo điều tra dân số 01/04/1999 : 1031.262 người bao gồm nhiều din tộc : Kinh, Raglai, Giétriéng. Chăm- Khánh Hòa là một trong những tỉnh có vị trí địa lý đặc biệt so với nhiều địa phương trong ca nước trên 2 mặt xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nhất là trong thời kỳ phát triển của đất nước hiện nay. Lịch sử hình thành.
Lich sử hình thành và phát triển Khánh Hòa cũng như các tỉnh mién Trung gắn liền lich sử các vương quốc Lâm Ấp, Chiêm Thành của người Chim và lịch sử mở mang hở cỏi chống giặc ngoại xâm, phát triển kinh tế xã hội của người Việt. Các vương quốc Lâm Ấp, Chiêm Thành đa để lại nhiều di sản văn hóa trên đất Khánh Hòa : bia đá làng Vé Cảnh, Tháp Bà Pônagar. Theo các nguồn sử liệu còn lưu giữ : Khánh Hòa trở thành đất của Đại Việt kể từ năm1653 -Người Việt ở các tỉnh từ Phú Yên đến sông Gianh ~ Quảng Bình bat đầu di din đến ở và khai phá vùng đất mới. Sau khi tiếp quản vùng đất mới chúa Nguyễn đã thiết lập nền hành chính gồm 2 phủ Thái Khang và Diên Ninh.
Năm 1690 đổi phủ Thái Khang thành phủ Bình Khang và lấy tên dinh là Bình Khang. Năm 1803 đổi Bình Khang thành dinh Bình Hòa và thành tỉnh Khánh Hòa. Sau năm L97?5 hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên xáp nhập vào nhau gọi là tinh Phú Khánh. Cuối năm 1989, hai tỉnh lại tách ra như cũ.
Đặc diémty nhiên IIL. Phần đất của tỉnh Khánh Hòa ngày nay là một bộ phận thuộc rìa phía Đông Nam của khối nền cổ KonTum. được nổi lên khỏi mặt biển từ đại cổ sinh. Ở đại trung sinh, hai chu kỳ tạo núi Inđôxini và Kimeri có ảnh hưởng một phần đến tỉnh Khánh Hòa.
SVTH : Nguyễn Thị Nga Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : HOANG XUAN DŨNG Hai chu kỳ tạo sơn này đã góp phan tạo nên các dãy núi ở phía tây tinh Khánh Hòa. Cho đến cuối đại Trung sinh, cấu trúc địa hình cơ bản trong phan đất của tỉnh Khánh Hòa ngày nay đã được hình thành. Ở đại Tân sinh, phan đất ở tỉnh Khánh Hòa đã chấm đứt giai đoạn địa tho và bước sang giai đoạn lục địa, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình ngoại lực, ha thấp sau bằng địa hình bồi tụ. Vào cuối đại tân sinh có chu kỳ tạo sơn Himalaya tuy mạnh nhưng chỉ ảnh hưởng nhẹ đến địa hình của phan đất tỉnh Khánh Hòa ngày nay.
Tuy vậy đã làm cho địa hình trẻ lại, các pha uốn nếp Himalaya đã làm cho toàn bộ gd núi Trường Sơn, trony đó có phan đất Khánh Hòa tự nâng cao đứt gãy ở nhiều nơi, sườn Đông Trường Sơn trở thành vách đứng về phía biển. Hiện tượng sụt lún cũng tạo thành các đường đứt gäy sâu chạy dọc bờ biển. làm cho thêm lục địa của tinh Khánh Hòa rất hẹp. Tinh Khánh Hòa nim yan khu vực ảnh hưởng của vành đai lửa Thái Bình Dương nên những chấn động nhẹ do hoại động núi lửa cũng có thể xảy ra.
Là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ. cấu trúc địa hình của tỉnh Khánh Hòa chủ yếu là dạng địa hình ban sơn địa. Diện tích đổi, núi chiếm tới 90% điện tích tự nhiên toàn tỉnh. Còn lại là những đồng bằng nhỏ hẹp có độ nghiêng chung của địa hình từ Tây sang Đông.
Địa hình toàn tỉnh có thể chia thành các vùng, vùng núi và bán sơn địa. vùng đồng bằng. vùng bờ biển và thểm ven bờ vùng núi và bán sơn địa hầu hết nằm phía bắc. Tây Bắc và phía tây của tỉnh.
Có nhiều núi cao hiểm trở nối tiếp nhau trùng điệp gấn với giải Trường Sơn hùng vi. Vùng đồng bằng khoảng 400 km’ trong đó diện tích đất trồng lúa nước khoảng trên 35.