Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên biển phong phú với đường bờ biển dài, giữ vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế lẫn an ninh quốc phòng. Trong Văn kiện Đại hội XII, Đảng khẳng định định hướng phát triển mạnh kinh tế biển nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Tuy nhiên, công tác quản lý kinh tế biển tại Việt Nam trên thực tế vẫn còn bộc lộ một số bất cập, dẫn tới tốc độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng so với nhiều quốc gia có biển.

Tỉnh Quảng Ninh nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới đất liền và biển với Trung Quốc (giáp ranh huyện Đông Hưng, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây), là cửa ngõ giao thương quốc tế của khu vực ASEAN và phía Bắc. Tỉnh sở hữu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, các vùng biển đảo Vân Đồn, Cô Tô cùng nguồn tài nguyên khoáng sản lớn. Nhằm cụ thể hóa các yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác giả Vương Khánh Chi (ngành Kinh tế Chính trị, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Phát triển kinh tế biển bền vững ở tỉnh Quảng Ninh: Cơ hội và thách thức dưới góc độ kinh tế số".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về kinh tế biển, quản lý kinh tế biển, phát triển bền vững và kinh tế số; tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan.
  2. Phân tích đặc điểm, thực trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Quảng Ninh dưới góc nhìn kinh tế số; rút ra các cơ hội và thách thức mà địa phương đang đối mặt.
  3. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy kinh tế biển tỉnh Quảng Ninh phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số.

Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng:

  • Về mặt lý luận: Xây dựng khung lý thuyết tổng hợp về phát triển kinh tế biển bền vững gắn với các tiêu chí và công nghệ số.
  • Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực trạng các ngành kinh tế biển tại Quảng Ninh giai đoạn 2020 đến nay, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại và đưa ra giải pháp khắc phục.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng phát triển nền kinh tế biển bền vững tại tỉnh Quảng Ninh dưới góc độ kinh tế số.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào tầm quan trọng, rào cản, các chỉ tiêu phát triển kinh tế biển bền vững và các ứng dụng công nghệ số trong các ngành kinh tế biển then chốt.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong mối liên hệ với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung tìm hiểu giai đoạn từ năm 2020 đến nay, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1991–2022 để phân tích tiến trình phát triển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa và hệ thống hóa các khung lý thuyết, khái niệm và cơ sở pháp lý sau:

  • Văn bản pháp lý: Luật Biển Việt Nam năm 2012 (đặc biệt là Chương IV về phát triển kinh tế biển), Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
  • Khái niệm kinh tế biển: Tiếp cận theo định nghĩa của ThS. Lê Quốc Bang và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), xác định kinh tế biển gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế dựa trên đại dương cùng tài sản, hàng hóa, dịch vụ cung cấp bởi hệ sinh thái biển và các hoạt động ven bờ phục vụ trực tiếp cho biển.
  • Khái niệm kinh tế số: Dẫn chiếu theo Nhóm cộng tác kinh tế số Oxford, xác định kinh tế số là nền kinh tế vận hành dựa trên nền tảng số, sử dụng công nghệ kỹ thuật số và Internet để thực hiện các giao dịch thương mại, sản xuất, dịch vụ và quản lý.
  • Khái niệm phát triển bền vững: Dẫn chiếu theo Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED), bao gồm 4 nội dung cốt lõi: tăng trưởng kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và tôn trọng quyền con người; đồng thời phân tích qua 3 trụ cột (bền vững kinh tế, bền vững xã hội, bền vững môi trường).
  • Bộ tiêu chí đánh giá kinh tế biển bền vững dưới góc nhìn kinh tế số: Gồm 8 tiêu chí: (1) Kết nối kỹ thuật số, (2) Quản lý dữ liệu và thông tin, (3) Thương mại điện tử, (4) Đổi mới công nghệ, (5) An ninh và bảo mật, (6) Tích hợp và tương tác, (7) Phát triển nhân lực kỹ thuật số, (8) Tầm nhìn và chiến lược.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo ban ngành, niên giám thống kê và tài liệu xuất bản.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu lịch sử và khảo nghiệm thực tế kế thừa khoa học.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo của Cảng vụ Hàng hải Quảng Ninh, Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh, các Nghị quyết, Quyết định của UBND tỉnh Quảng Ninh, văn kiện của Đảng, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước (Ngô Lực Tài, Nguyễn Chu Hồi, Nguyễn Văn Kim,...) và nước ngoài (Nazery Khalid, Sherry Heileman, Costas Grammenos,...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận của đề tài

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế biển, kinh tế biển xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam và trên thế giới. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào tiến trình lịch sử, tiếp cận ở quy mô quốc gia hoặc phân tích riêng lẻ từng địa phương (như Bình Định, Kiên Giang, Trà Vinh), chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về phát triển kinh tế biển bền vững gắn với góc độ kinh tế số tại tỉnh Quảng Ninh.

Về cơ sở lý luận, chương này phân tích 4 vai trò cụ thể của kinh tế số đối với kinh tế biển:

  • Quản lý tài nguyên và môi trường: Ứng dụng công nghệ Internet vạn vật (IoT) và hệ thống cảm biến phục vụ giám sát nguồn lợi thủy sản, chất lượng nước và biến đổi khí hậu theo thời gian thực.
  • Vận chuyển và giao thông biển: Ứng dụng hệ thống quản lý tàu biển thông minh, công nghệ blockchain nhằm tối ưu hóa hải trình, tiết kiệm nhiên liệu và minh bạch hóa chuỗi cung ứng.
  • Du lịch và khai thác tài nguyên: Sử dụng ứng dụng di động, cổng thông tin số để quản lý dịch vụ, tra cứu luồng tuyến và hỗ trợ an toàn biển.
  • Kết nối và giao tiếp: Mở rộng mạng lưới hợp tác toàn cầu, đẩy mạnh quảng bá tiếp thị số trên các nền tảng trực tuyến.

Cuối chương, tác giả xây dựng 8 tiêu chí định lượng và định tính nhằm đánh giá mức độ bền vững của kinh tế biển dưới tác động của kinh tế số.

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế biển bền vững tại tỉnh Quảng Ninh dưới góc nhìn kinh tế số

Chương 2 tập trung phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá chi tiết 6 lĩnh vực kinh tế biển chính của Quảng Ninh:

  1. Đặc điểm địa bàn: Quảng Ninh có diện tích mặt biển trên 6.000 km², bờ biển dài 250 km; mạng lưới giao thông đồng bộ với cao tốc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh (đưa vào hoạt động tháng 9/2017, rút ngắn thời gian di chuyển còn 3 giờ). Cơ cấu dân cư gồm 21 dân tộc, tỷ lệ đô thị hóa đạt 67% với 4 thành phố và 2 thị xã.
  2. Kinh tế hàng hải: Hệ thống gồm 07 cảng biển (Vạn Gia, Mũi Chùa, Cẩm Phả, Hòn Gai, Cái Lân, Hải Hà, Khu Tiền Phong – Đầm Nhà Mạc). Cảng Cái Lân có mớn nước -13m, ngày 31/5/2017 đã tiếp nhận tàu container HS BAFFIN (dài 255m, sức chở 5.000 TEUs) thuộc tuyến ACS (Ấn Độ – Malaysia – Singapore – Cái Lân – Hàn Quốc – Trung Quốc). Từ năm 2018, Cảng vụ Hàng hải Quảng Ninh triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 với 11 thủ tục hành chính, chuyển từ cơ chế "6 cửa" sang "1 cửa", rút ngắn thời gian giải quyết từ 6–8 giờ xuống còn 15–30 phút, tỷ lệ thủ tục điện tử đạt 98%.
  3. Nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản: Năm 2020, sản lượng thủy sản đạt trên 136.000 tấn, giá trị trên 5.500 tỷ đồng (tương đương 239 triệu USD). Nhằm giảm ô nhiễm rác thải từ phao xốp truyền thống (tuổi thọ chỉ 2–3 năm, dễ vỡ vụn khi gặp thời tiết xấu), UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 31/2020/QĐ-UBND quy chuẩn vật liệu phao nổi nuôi trồng thủy sản bằng nhựa HDPE (độ bền 50 năm, bảo hành 10 năm theo tiêu chuẩn FAO 2015). Trong chăn nuôi và nghề cá, địa phương áp dụng cảm biến môi trường, hệ thống định vị GPS và giám sát hành trình tàu cá.
  4. Khai thác khoáng sản: Gần 200 dự án khai thác khoáng sản đang vận hành. Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và các đơn vị thực hiện Đề án đảm bảo môi trường cấp bách theo Quyết định số 222/QĐ-UBND ngày 25/1/2018; thay thế vận chuyển than bằng ô tô sang hệ thống băng tải kín (băng tải Lép Mỹ – Cảng Km6, Khe Ngát – Điền Công). Các công nghệ số như GPS quản lý đoàn xe, cảm biến trắc địa và phân tích dữ liệu địa chất được ứng dụng vào quản lý tài nguyên.
  5. Du lịch biển: Năm 2020, du lịch Quảng Ninh thu hút hơn 10 triệu lượt khách, đóng góp hơn 12.000 tỷ đồng cho kinh tế tỉnh. Hạ tầng du lịch được nâng cấp với các tổ hợp vui chơi giải trí như Sun World Hạ Long, kết nối các điểm đến Vịnh Bái Tử Long, Cô Tô, Quan Lạn. Hoạt động quảng bá được số hóa mạnh mẽ thông qua các hội nhóm mạng xã hội (Hội Review Quảng Ninh trên Facebook), trang thông tin điện tử và sàn thương mại điện tử.
  6. Các khu kinh tế (KKT) ven biển: Quảng Ninh sở hữu 3 trong tổng số 18 KKT ven biển của cả nước:
    • KKT Quảng Yên: Quy mô 13.303 ha (gồm Khu phức hợp đô thị, công nghiệp kỹ thuật cao 6.403,7 ha và Khu dịch vụ cảng biển, công nghệ Đầm Nhà Mạc 6.899,3 ha).
    • KKT Vân Đồn: Diện tích 55.133 ha chia làm 9 phân khu chức năng, định hướng phát triển dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng cao cấp và bảo tồn sinh thái.
    • KKT Cửa khẩu Móng Cái: Bao gồm TP Móng Cái và KCN cảng biển Hải Hà cùng 9 xã, thị trấn.
  7. Chuyển giao KH-CN: Từ năm 2012, tỉnh duy trì bố trí 5% ngân sách cho hoạt động KH-CN; xây dựng nhãn hiệu chứng nhận cho các đặc sản biển (Chả mực Hạ Long, Tu hài Vân Đồn, Sá sùng Vân Đồn, Rượu Ba kích Ba Chẽ); hợp tác với Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQGHN) và Công ty Oishi (Nhật Bản) thử nghiệm công nghệ xử lý trầm tích ô nhiễm đáy Vịnh Hạ Long.

Chương 3: Cơ hội và thách thức

Khóa luận phân loại các yếu tố tác động đến sự phát triển kinh tế biển Quảng Ninh dưới bối cảnh chuyển đổi số:

  • Cơ hội: Vị trí chiến lược cửa ngõ kết nối kinh tế quốc tế và nội vùng; cơ sở hạ tầng giao thông và viễn thông (đang thí điểm mạng 5G tại Hạ Long, Cát Bà, Vân Đồn) được đầu tư hiện đại; tiềm năng ứng dụng thương mại điện tử cho chuỗi thủy hải sản và dịch vụ logistics cảng biển.
  • Thách thức: Chất lượng và số lượng nhân lực số trong ngành kinh tế biển còn hạn chế; khoảng cách phát triển hạ tầng số giữa khu vực đô thị trung tâm và vùng sâu, vùng hải đảo; áp lực ô nhiễm môi trường biển từ hoạt động công nghiệp, du lịch; nguy cơ mất an toàn, an ninh thông tin trong các giao dịch kinh tế số.

Chương 4: Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế biển bền vững tại Quảng Ninh

Trên cơ sở phân tích nguyên nhân hạn chế, khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Tiếp tục hoàn thiện quy hoạch hạ tầng số đồng bộ tại các KKT ven biển và hệ thống cảng biển thông minh.
  • Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi vật liệu thân thiện môi trường trong nuôi trồng thủy sản (nhựa HDPE) gắn với hỗ trợ vốn vay tín dụng cho ngư dân.
  • Xây dựng chính sách đào tạo, thu hút nhân lực trình độ cao về công nghệ số và quản lý kinh tế biển.
  • Tăng cường kiểm soát môi trường các dự án khai thác khoáng sản và duy trì hợp tác quốc tế trong xử lý ô nhiễm trầm tích biển.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các kết quả thực tế về kinh tế biển Quảng Ninh qua các giai đoạn:

Chỉ tiêu phát triển kinh tế biển Mốc thời gian trước đây Mốc thời gian gần nhất (theo văn bản)
Lượt tàu qua cụm cảng biển Quảng Ninh 320 lượt (Năm 1991) Trên 112.000 lượt (Năm 2020)
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển 2,8 triệu tấn (Năm 1991) Gần 110 triệu tấn (Năm 2020)
Thu phí, lệ phí hàng hải 3,49 tỷ đồng (Năm 1991) Trên 512 tỷ đồng (Năm 2020)
Thời gian giải quyết thủ tục hàng hải 6 – 8 giờ (Cơ chế 6 cửa) 15 – 30 phút (Cơ chế 1 cửa, tỷ lệ điện tử 98%)
Tổng thu ngân sách 9 địa phương ven biển — 117.189 tỷ đồng (Giai đoạn 2019–2022, chiếm 85,1% toàn tỉnh)
Thu ngân sách từ các ngành kinh tế biển — 26.376 tỷ đồng (2019–2022: CN ven biển 35,8%, Du lịch 32,01%, Hàng hải 31,55%)
Sản lượng và giá trị thủy sản — 136.000 tấn / trên 5.500 tỷ đồng (~239 triệu USD, Năm 2020)
Lượt khách và doanh thu du lịch — Hơn 10 triệu lượt khách / hơn 12.000 tỷ đồng (Năm 2020)

Mục tiêu đến giai đoạn 2022–2025 được tác giả nêu rõ: Tốc độ tăng trưởng kinh tế biển đạt 11,5–12%, tỷ trọng kinh tế biển đóng góp vào GRDP của tỉnh đạt 22–23%, đón 13,286 triệu lượt khách du lịch biển đảo, doanh thu du lịch đạt 71.737 tỷ đồng, doanh thu dịch vụ cảng biển khoảng 25.000 tỷ đồng (tăng bình quân 17,5%/năm).

Đóng góp của khóa luận:

  • Hệ thống hóa khung tiêu chí đánh giá kinh tế biển bền vững gắn với bối cảnh chuyển đổi số.
  • Phân tích thực trạng kinh tế biển của tỉnh Quảng Ninh dựa trên số liệu quản lý thực tế của địa phương.
  • Làm rõ tính khả thi của các mô hình kinh tế xanh (phao HDPE, băng tải than kín, cảng biển 1 cửa) tại địa phương có đường biên giới giáp Trung Quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp thống kê mô tả từ các nguồn tài liệu thứ cấp và dữ liệu hành chính công khai; chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học diện rộng hoặc khảo sát định lượng với mẫu số liệu sơ cấp ($n$) từ các doanh nghiệp kinh tế biển trên địa bàn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần đi sâu đánh giá định lượng tác động của mức độ đầu tư công nghệ số (5G, IoT, Blockchain) đến năng suất các ngành cảng biển và logistics; nghiên cứu mở rộng mô hình liên kết phát triển kinh tế biển vùng giữa Quảng Ninh và Hải Phòng trong chuỗi logistics khu vực phía Bắc.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Kinh tế biển.

Nội dung nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo thực tế cho các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, các ban quản lý KKT ven biển và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hàng hải, du lịch, thủy sản khi xây dựng kế hoạch chuyển đổi số và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật bảo vệ môi trường biển.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các tiêu chí nào để đánh giá kinh tế biển bền vững dưới góc nhìn kinh tế số? Tác giả xác định 8 tiêu chí: Kết nối kỹ thuật số, Quản lý dữ liệu và thông tin, Thương mại điện tử, Đổi mới công nghệ, An ninh và bảo mật, Tích hợp và tương tác, Phát triển nhân lực kỹ thuật số, cùng Tầm nhìn và chiến lược.

2. Cải cách thủ tục hành chính điện tử tại Cảng vụ Hàng hải Quảng Ninh mang lại kết quả cụ thể gì? Từ năm 2018, Cảng vụ triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 cho 11 thủ tục, thu gọn từ cơ chế "6 cửa" về "1 cửa", rút ngắn thời gian làm thủ tục cho tàu thuyền từ 6–8 giờ xuống còn 15–30 phút, với tỷ lệ giải quyết điện tử đạt 98%.

3. Tỉnh Quảng Ninh đã thay đổi quy chuẩn kỹ thuật gì đối với vật liệu nuôi trồng thủy sản trên biển? Theo Quyết định 31/2020/QĐ-UBND, tỉnh quy định thay thế phao xốp truyền thống (tuổi thọ 2–3 năm, dễ gây ô nhiễm) bằng phao nổi nhựa HDPE theo tiêu chuẩn FAO 2015, có độ bền 50 năm, bảo hành 10 năm.

4. Cơ cấu thu ngân sách từ các ngành kinh tế biển tại Quảng Ninh giai đoạn 2019–2022 được phân bổ như thế nào? Tổng thu ngân sách ngành kinh tế biển giai đoạn 2019–2022 đạt 26.376 tỷ đồng; trong đó công nghiệp ven biển chiếm 35,8%, du lịch và dịch vụ biển chiếm 32,01%, kinh tế hàng hải chiếm 31,55%.

5. Tỉnh Quảng Ninh sở hữu những khu kinh tế ven biển nào? Quảng Ninh có 3 KKT ven biển: KKT Quảng Yên (13.303 ha), KKT Vân Đồn (55.133 ha) và KKT Cửa khẩu Móng Cái.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vương Khánh Chi đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế biển bền vững và làm rõ vai trò của các công nghệ số trong công tác quản lý tài nguyên, hàng hải, thủy sản và du lịch. Thông qua nguồn số liệu thứ cấp cụ thể, công trình phản ánh bức tranh thực trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Quảng Ninh với nhiều chuyển biến tích cực trong hiện đại hóa hạ tầng cảng biển và chuyển đổi mô hình kinh tế xanh. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có giá trị tham khảo tốt cho công tác nghiên cứu học thuật và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương.