mở đầu bằng việc đóng tàu thuỷ. Từ năm 1812 đến 1854 là giai đoạn ba của cuộc cách mạng trong lĩnh vực giao thông vận tải - xây dựng đường sắt. Đến năm 1849, liên minh vương quốc Anh - Xcốtlen - Ailen đã có 5.996 dặm đường sắt. Cuộc cách mạng trong lĩnh vực năng lượng có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển ngành công nghiệp.
Năm 1784, Jame Watt đã sáng chế ra máy hơi nước đã trở thành biểu tượng cho thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ở nước Anh, từ năm 1801 các nhà máy sợi được trang bị máy hơi nước. Đến năm 1815, cả nước Anh đã có 2. Công nghiệp cơ khí cũng phát triển do yêu cầu không thể tiếp tục sản xuất bằng phương pháp thủ công, mà phải có một ngành cơ khí chế tạo ra máy công cụ, đảm bảo độ chính xác tinh vi.
Khoảng thời gian cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các loại máy phay, máy bào, máy tiện đã được sản xuất và thay thế những công cụ thô sơ của thế kỷ 12 XV-XVI. Ngành cơ khí chế tạo ra đời, đến đầu thế kỷ XIX việc dùng máy để sản xuất máy đã trở thành hiện thực. Các loại máy móc được sản xuất ở nước Anh không chỉ trang bị cho các ngành kinh tế trong nước mà còn có thể xuất khẩu. Năm 1825, nước Anh xóa bỏ lệnh cấm xuất khẩu máy móc mà họ đã đặt ra từ những năm cuối thế kỷ XVIII.
Đặc điểm của cách mạng công nghiệp Anh: - Bắt đầu từ công nghiệp nhẹ (ngành dệt), sau đó lan sang các ngành công nghiệp nặng như: luyện kim, cơ khí, nhưng công nghiệp dệt luôn đóng vai trò trụ cột trong suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp. - Cách mạng công nghiệp diễn ra theo trình tự từ thấp tới cao, từ thủ công lên nửa cơ khí và cơ khí hóa hoàn toàn một quá trình sản xuất; từ các máy công cụ đến các máy động lực với đỉnh cao nhất là chế tạo máy hơi nước. Cách mạng công nghiệp Anh căn bản hoàn thành vào năm 1825, khi hệ thống công xưởng dựa trên kỹ thuật cơ khí đã hình thành và thể hiện ưu thế hơn hẳn so với sản xuất thủ công nghiệp và các công trường thủ công, đưa nước Anh trở thành công xưởng của thế giới. Sau nước Anh, ở một số nước châu Âu khác như Pháp, Đức.
cách mạng công nghiệp cũng lần lượt xảy ra, trong giai đoạn đầu, các nước đi sau đều chịu ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp Anh, vì vậy cách mạng công nghiệp đều bắt đầu từ công nghiệp nhẹ, trước hết là ngành dệt, sau mới chuyển sang các ngành khác. Tuy nhiên, xuất phát từ những điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội khác nhau, cuộc cách mạng công nghiệp ở các nước này xảy ra ở thời điểm khác nhau và có những đặc điểm khác với nước Anh. b) Cách mạng công nghiệp Pháp (1815-1920) Pháp được xếp vào hàng những nước có cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra sớm và mang nhiều đặc điểm mô phỏng kiểu Anh, dựa vào máy móc, lao động kỹ thuật cùng một phần vốn của Anh. Có nhiều nhân tố làm trì hoãn cuộc cách mạng công nghiệp Pháp.
Nếu ở Anh khi tiến hành cách mạng công nghiệp giai cấp tư sản tước đoạt ruộng đất của nông dân tàn khốc thì ở Pháp chỉ đánh thuế cao dồn nông dân vào chỗ cầm cố, bán số ruộng đất của mình. Vì thế ở Pháp tốc độ tước đoạt tư liệu sản xuất của nông dân diễn ra chậm, còn việc cướp bóc thuộc địa thì Pháp kém xa Anh. Cách mạng công nghiệp Pháp cũng bắt đầu bằng công nghiệp nhẹ, cụ thể là ngành dệt. Chia làm hai giai đoạn: 13 Giai đoạn I: Từ năm 1815 đến năm 1848, phát triển mạnh nhất là ngành dệt; máy hơi nước; đường sắt.
Giai đoạn II: Từ những năm 1850 của thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX. Nước Pháp đã xây dựng được ngành công nghiệp chế tạo máy. Pháp đã có nhiều phát minh sáng chế. Nước Pháp hoàn thành công nghiệp hoá vào những năm 20 của thế kỷ XX, tức là gần 100 năm (1830 - 1920).
Những năm 60 của thế kỷ XIX nước Pháp có 3 triệu công nhân, song chỉ có 4/10 làm việc trong công xưởng, còn lại làm ở các xưởng tiểu thủ công. CNTB thâm nhập vào nông thôn nhưng không phát triển theo hướng trang trại như Anh mà ruộng đất tập trung vào tay địa chủ phát canh thu tô dẫn đến tầng lớp tá điền đông đảo, sử dụng công cụ lạc hậu so với Châu Âu. Tiến trình cách mạng công nghiệp căn bản hoàn thành vào sau cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (năm 1870). Vào những năm 70 của thế kỷ XIX, cơ cấu kinh tế của nước Pháp là cơ cấu công nông nghiệp phát triển.
Trong công nghiệp, hàng tiêu dùng vẫn chiếm tỷ lệ lớn về giá trị sản lượng. Từ năm 1870 đến năm 1913, cơ cấu dần dần thay đổi một cách chậm chạp. Nước Pháp vẫn đứng thứ tư sau Anh, Mỹ, Đức. c) Cách mạng công nghiệp Đức Cách mạng công nghiệp Đức chỉ thực sự diễn ra vào đầu thế kỷ XIX, được đẩy mạnh sau cách mạng tư sản và hoàn thành sau cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (sau những năm 1870).
Cách mạng công nghiệp Đức có đặc điểm khác với Anh, Pháp nhưng lại giống với các nước Mỹ và Nhật Bản. Thứ nhất, cách mạng công nghiệp bắt đầu từ công nghiệp nhẹ nhưng nhanh chóng chuyển sang công nghiệp nặng mà chủ yếu là công nghiệp than, luyện gang thép và cơ khí chế tạo. Thứ hai, chính phủ đã có tác động quan trọng thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra khẩn trương hơn để đuổi kịp các nước đi trước. Chính phủ thi hành chính sách bảo hộ thuế quan, đồng thời còn xây dựng các xí nghiệp, trợ vốn cho các công ty.
Thứ ba, cơ sở hạ tầng được chú trọng phát triển, nhất là hệ thống đường sắt. Chiều dài đường sắt của một số nước Đơn vị tính: km [1 km = 5/8 dặm]4 4 Fontana Economic History of Europe Vol 4, Part 2.678 Vương quốc Anh và Bắc Ai len 2. Tác động của cách mạng công nghiệp đến nền kinh tế các nước tư bản giai đoạn trước độc quyền Cuộc cách mạng công nghiệp là bước khởi đầu của quá trình công nghiệp hóa, là bước nhảy vọt về kỹ thuật, tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cho sự chiến thắng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản trước độc quyền. Với sự ra đời của hàng loạt các phát minh, sáng chế và việc ứng dụng vào sản xuất đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp.
Chỉ số sản xuất công nghiệp ở các nước tư bản trong thế kỷ XVII-XIX tăng rất nhanh, làm cho hệ thống các nước tư bản trở thành những cường quốc thế giới về công thương nghiệp. Chỉ số sản xuất công nghiệp của các nước Anh, Pháp, Đức (1905-1913 = 100)5 1781- 1801- 1825- 1845- 1865- 1885- 1905- Giai đoạn 1790 1814 1834 1854 1874 1894 1913 Anh 3,8 7,1 18,8 27,5 49,2 70,5 100,0 Pháp 10,9 12,3 21,5 33,7 49,8 68,2 100,0 Đức - - - 11,7 24,2 45,3 100,0 Do sản xuất bằng máy, năng suất lao động tăng lên, giá thành sản phẩm công nghiệp và giá bán giảm xuống rõ rệt. Trong vòng 100 năm, chi phí sản xuất ở nước Anh giảm xuống khoảng 49,8 lần. Thủ công nghiệp và công trường thủ công trở nên bất lực trước hệ thống công xưởng bởi chi phí sản xuất của nó thấp và hàng hóa rẻ hơn nhiều.
Cách mạng công nghiệp diễn ra sớm nhất đã đưa nước Anh trở thành nước hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa đầu tiên trên thế giới (năm 1870). Nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong nền kinh tế thế giới trong suốt thời kỳ chủ nghĩa tư bản trước độc quyền, được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”, là nơi cung cấp máy móc cho nhiều nước khác. Sản xuất công nghiệp của Anh chiếm 45% sản xuất công nghiệp của thế giới vào năm 1848. Đến năm 1870, mặc dù sản xuất công nghiệp ở Mỹ, Đức đã phát triển mạnh nhưng sản xuất công nghiệp của Anh vẫn chiếm 31,8%.
5 Fontana Economic History of Europe Vol 4, Part 2 15 Cách mạng công nghiệp đã thúc đẩy sự phân bố lại lực lượng sản xuất và phân công lại lao động xã hội. Trước hết là cuộc di cư lên phía Bắc và phía Đông - vùng phát triển nhất mà trung tâm là thành phố London. Các xí nghiệp mới phát triển gồm các cơ sở nguyên liệu, năng lượng. Thành phố Lancashire trở thành trung tâm của ngành công nghiệp vải bông.
Tại Xcốtlen xuất hiện nhiều khu công nghiệp mới. Nhiều thành phố mới được xây dựng như Liverpool, Manchester, Birmingham. Dân số thành thị tăng lên 3,5 lần trong những năm 1750-1871. Trong khi đó dân cư nông thôn giảm xuống nhanh chóng, từ 35% tổng số dân năm 1811 xuống 20,9% năm 1851 và 14,2% năm 1871 (trong tổng số dân là 22.
Cách mạng công nghiệp đã làm phá sản thợ thủ công và nông dân, biến họ thành những người vô sản đi làm thuê trong các nhà máy. Giai cấp vô sản hình thành và ngày càng tăng lên. Họ phải làm việc 12- 14 tiếng một ngày là hiện tượng bình thường, trong khi đó tiền lương thực tế của họ bị giảm xuống. So với năm 1800, tiền lương thực tế của công nhân Anh năm 1809-1818 thấp hơn đến 28%; đời sống của công nhân ngày càng bị bần cùng hóa.
Đáng chú ý là các cuộc khủng hoảng kinh tế đã diễn ra ngay sau khi cách mạng công nghiệp ở nước Anh căn bản hoàn thành. Năm 1825, ở Anh nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên, sau đó các cuộc khủng hoảng tiếp tục diễn ra vào các năm 1837, 1847, 1857, 1866, 1872 v. Sản xuất giảm sút, hàng nghìn doanh nghiệp bị phá sản, công nhân bị sá thải, tiền lương bị cắt giảm. Trong cuộc khủng hoảng năm 1837, giá sắt giảm 44%, bông giảm 40%, len giảm 20%.
riêng ở Manchester đã có đến 50.000 người thất nghiệp. Tình trạng đó làm gia tăng sự bần cùng hóa giai cấp công nhân, mâu thuẫn xã hội gay gắt và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng lên cao. CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN VÀ ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC 1. Chủ nghĩa tư bản độc quyền a.
Nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền Công xã Pari (1871) đã đánh dấu sự kết thúc thời kỳ phát triển “tiến bộ” của chủ nghĩa tư bản - thời kỳ tự do cạnh tranh.