Chương 1, Luật Du lịch VN ban hành ngày 14/6/2005, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” va “Dich vu du lich 1a viéc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyên, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Văn Đính & Trần Thị Minh Hòa (2006), “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: Cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó”. Vì thế doanh nghiệp không chỉ thành công dựa vào khả năng của bản thân doanh nghiệp mà dựa vào năng lực của chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng du lịch là mạng lưới các tổ chức du lịch tham gia vào các hoạt động khác nhau tử việc cũng cấp các bộ phận khác nhau của sản phẩm/dịch vụ du lịch ví dụ như dịch vụ vận chuyền và lưu trú.
đến việc phân phối và marketing sản phẩm du lịch cuối cùng ở một điểm đến du lịch cụ thẻ, liên quan đến nhiều đối tượng (Zhang & cộng sự, 2009). Đặc điểm của du lịch Theo Ujima (2001). Nguyễn Văn Đính & Trần Thị Minh Hòa (2006), và Zang & cộng sự (2009), du lịch có các đặc điểm sau: - Du lịch là ngành cần sự hợp tác chặt chẽ mà ở đó các sản phẩm/ dịch vụ được kết hợp với nhau đề tạo nên sản phẩm du lịch cuối cùng. - Sản phẩm du lịch là không cụ thể và không tồn tại dưới dạng vật thẻ.
Hơn nữa, do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ là đồng thời nên sản phẩm du lịch không cất giữ được và rất dễ hỏng. Vì thế các doanh nghiệp sử dụng công cụ giá và các công cụ khác nhằm thu hút khách trong những thời điểm nhất định nhằm điều chỉnh cầu. - Sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Khách du lịch cần di chuyển đến điểm đến đẻ sử dụng sản phẩm du lịch.
Thông thường, sản phẩm du lịch không thể kiêm tra hoặc đánh giá trước khi sử dụng. Đối với hàng hóa thông thường, khách hàng dự định mua hàng hóa có thể nghiên cứu kĩ hàng hóa về đặc tính tự nhiên của sản phẩm, thấm mỹ, thị hiểu,. còn với sản phẩm du lịch thì không thể như thế được. Điều này hàm ý rằng kinh doanh sản phẩm du lịch lệ Tạp chí Phát triên kinh tế 277 (11/2013) 02-11 Nguyễn Phúc Nguyên & Lê Thể Giới | 5 thuộc rất lớn vào việc giới thiệu, giải thích và quảng bá sản phẩm.
Vì thế ngành du lịch rất nhạy cảm về thông tin hoặc lệ thuộc vào thông tin. - Du lịch là hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Sản phẩm du lịch bao gồm nhiều bộ phận địch vụ khác nhau chăng hạn như nơi lưu trú, vận tải, tham quan, ăn uống và mua sắm v. - Ngành du lịch thường đối diện với sự không chắc chắn về nhu cầu cao và phúc tạp hơn nhiều so với các ngành khác vì sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà cung cấp dịch vụ.
Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm du lịch không diễn ra đều đặn, tập trung vào thời điểm nhất định: vì thế hoạt động kinh doanh du lịch mang tính mùa vụ. Hơn nữa, nhiều nhân tố góp phần tạo ra tính không chắc chắn về nhu cầu của sản phẩm du lịch. Ví dụ một chiến dịch quảng bá du lịch hiệu quả có thể thu hút nhiều du khách. trong khi một sự đánh giá kém vẻ chất lượng cung cấp địch vụ ở một khâu có thẻ dẫn đến sụt giảm nhu cầu.
Điều kiện kinh tế ở các quốc gia sản sinh nhu cầu du lịch chính là nhân tố đầy. sẽ ảnh hưởng như cầu về sản phẩm du lịch cho một điểm đến cụ thể. Chuỗi giá trị du lịch Đề có thê phát triển du lịch một cách bền vững. nghiên cứu chuỗi giá trị du lịch là bước đi then chốt đầu tiên.
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết, tác giá sử dụng sơ đỗ giá trị du lịch của Denicolati & cộng sự (2010) vì nó phản ánh đầy đủ nội dung của chuỗi giá trị. Hình 2 phản ánh rằng điểm đến du lịch là một mạng lưới khu vực tạo ra giá trị '*với và cho” khách du lịch. Các hoạt động chính bao gồm tiện nghỉ vẻ ăn ở (ví dụ khách san, các địa điểm căm trại. nơi ăn uống (nhà hàng, tiệm bán thức ăn nhanh.
quản trị sự kiện và nguồn lực (Hiệp hội báo vệ cảnh quan, Hiệp hội du lịch. Ủy ban cổ động vẻ du lịch. quản trị cơ sở hạ tầng (vận tải, hạ tầng thông tin. Trong sơ đỗ gia tri vẻ du lịch tất cá các hoạt động chính phụ thuộc lẫn nhau.
Mặc khác, các hoạt động bồ trợ gia tăng việc tạo ra giá trị du lịch và bao gồm cô động, bán hang, chao mời/thông tin, kiểm soát thị trường và tái lập/ làm mới giá trị cốt lõi. Các hoạt động bồ trợ được quan lí một cách trực tiếp. riêng biệt bởi các đối tượng trong hệ thông du lịch hoặc một cách tập trung hóa. > Cô động (truyền thông giá tri) __ - = Bán hàng (tạo ra giá trị) ee SE E XI 2 ys.
` + " + = Chao dén/ Thong tin (truyén tai gia tri) = pos , co cà NÑ ram " = Kiểm tra thị trường và tái tạo gid Ut cot lot (tinh chinh gid tri) Địa điểm phục vụ an wong §_ _ _ _ *.ò “ nent = BO wish vBoiimaten ; S ae zaL Cơ‘asave Ốc sự về phòng ốc ; [rung gian Khách du lich Quan: tri nguồn4 lực sya và \\ = tiên nghị _. sự kiên Z Quan tr) eo sa C ha tang 7S Hình 2. Giá trị của mạng lưới du lich (Denicolati & céng su, 2010) Vap chi Phat teién kink té 277 (11/2013) 02-11 6 | Nguyễn Phúc Nguyên & Lê Thê Giới Mặt khác, chuỗi cung ứng du lịch là mạng lưới các tổ chức du lịch tham gia vào các hoạt động khác nhau từ việc cung cấp các bộ phận khác nhau của sản pham/dich vu du lịch; ví dụ dịch vụ vận chuyển và lưu trú đến việc phân phối và marketing sản phẩm du lịch cuỗi cùng ở một điểm đến du lịch cụ thẻ, và liên quan đến nhiều đối tượng bao gồm cả nhà nước và tư nhân (Zhang & cộng sự, 2009). Đề thành công, doanh nghiệp không chỉ dựa vào khả năng của mình mà còn dựa vào năng lực của chuỗi cung ứng vì trong lĩnh vực du lịch có khuynh hướng chuyên sang cạnh tranh điểm đến.
Hơn nữa, lợi thế cạnh tranh của điểm đến du lịch trên phương diện chung lệ thuộc vào cầu thành của cả mạng lưới hơn là dựa vào năng lực của các doanh nghiệp riêng biệt (Denicolati & cộng sự, 2010). Phát triển du lịch miền Trung- hiện trạng Đà Nẵng Chuỗi giá trị du lịch hiện tại của Đà Nẵng Để tìm hiểu sâu cách thức và đưa ra giải pháp phát triển du lịch miền Trung, điều đầu tiên và tiên quyết là phải nhận diện chuỗi giá trị du lịch hiện tại. Mặc dầu mỗi địa phương có sự khác biệt, tuy nhiên chuỗi giá trị hiện tại ở khu vực này là tương đối giống nhau. Vì thế, nhóm tác giả tập trung vào phân tích chuỗi giá trị du lịch hiện tại ở Đà Nẵng.
Lưu trú Vận Thực Mua sắm Chi tiêu tại (33,73%) »ị - chuyển > pham >| (14,83%) >» khdch san (18,66%) (16.99%) khác (7,89%) Giải trí Tham (2. Chuỗi giá trị du lich Da Nang Nguon: Jonathan Mitchell & Le Chi Phuc (2007) Theo Mitchell & Phúc (2007), khoảng 60% khách du lịch nội dia va 40% khach quốc tế đóng góp vào chuỗi giá trị du lịch hiện tại. Du khách quốc tế chỉ tiêu gấp khoảng 2,5 lần một ngày so với chỉ tiêu của khách nội địa và phần lớn chỉ phí này dành cho dịch vụ lưu trú (33,73% trong tổng giá trị của chuỗi). Tiếp theo đó là chi phi van chuyền, thực phẩm và mua sắm.
Du khách đến với Đà Nẵng còn chỉ tiêu cho các dịch khác như spa, massage. Chuỗi giá trị du lịch Đà Nẵng phản ánh những giá trị tăng thêm mang lại cho du khách là khiêm tốn. Đây có thể là tình trạng chung của chuỗi giá trị du lịch ở vùng duyên hải miền Trung, nơi có những nét tương đồng về địa lí, tự nhiên và cả cách thức khai thác, sử dụng và quản trị du lịch. Các nguyên nhân chủ yếu - Tập trung vào khai thác lợi thỂ so sảnh.
Trong kinh doanh và phát triển du lịch hiện nay. Đà Nẵng chỉ tập trung vào khai thác các lợi thế so sánh trên cơ sở nguồn lực có hữu (theo phân loại của Dwyer & Kim, 2003). Chúng ta dễ dàng nhận thấy việc khai thác và sử dụng chủ yếu các di sản vật thể từ thiên nhiên chẳng hạn như biển, sông, núi. Theo khảo sát của Thủy (201 1), hình ảnh Đà Nẵng trong tâm trí du khách liên quan đến biển (37,8%), núi Non Nước (23,2%), Bà Nà (19,5%), Cổ Viện Chàm (17,8%).
Tap chi Phái triên kinh tế 277 (11/2013) 02-11 Nguyễn Phúc Nguyên & Lê Thế Giới | 7 Các số liệu từ nghiên cứu của Huy & Thơ (2010) cũng chỉ ra rằng du khách Thái Lan đến Đà Nẵng chủ yếu là do có bãi biển đẹp, các danh lam thắng cảnh. Điều này lí giải tại sao chỉ tiêu và giá trị tăng thêm của du lịch Đà Nẵng vẫn ở mức khiêm tốn. Đành rằng tận dụng lợi thế so sánh là một trong những cách để tạo dựng lợi thế cạnh tranh điểm đến (Dwyer & Chu, 2003; Nguyên, 2012), các yếu tô này ở khu vực miền Trung là có những điểm tương đồng, vì thé dễ dẫn đến sự nhàm chán của du khách trong các sản phẩm du lịch. Nếu chỉ tập trung vào các lợi ích từ biển thì các tỉnh lân cận cũng cung cấp các dịch vụ này.
Điều này khẳng định rằng vùng duyên hải miền Trung chưa có định hướng chiến lược đầu tư cũng như phát triển thong nhat du lich (Thién, 2013). - Thiêu văng các sản phẩm mang tính đặc thù. Du lịch hiện tại của Đà Nẵng nói riêng và miền Trung nói chung chủ yếu tập trung vào các hoạt động chính mà chưa chú trọng nhiều đến các hoạt động bồ trợ (Hình 3). Nếu so với cả nước thì số lượng du khách đến Đà Nẵng còn khá khiêm tốn.