Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển khu công nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Chương 3: Giải pháp phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp 1. Khái niệm về khu công nghiệp Có nhiều quan niệm về KCN trên thế giới; tuy nhiên theo Nghị Định của Chính phủ Việt Nam số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 quy định về KCN, KCX và KKT, thì KCN được định nghĩa như sau: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ [7]. Khái niệm về phát triển các khu công nghiệp: Theo quan điểm về phát triển nói chung, có chú ý đến những yếu tố đặc thù của các KCN thì cần phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.
Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các tổ chức xã hội. phải phối hợp chặt chẽ với nhau, nhằm bảo đảm thực hiện có kết quả cả ba mục tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường trong quá trình phát triển các khu công nghiệp. Như vậy, quan điểm về phát triển KCN Việt Nam có thể hiểu: Phát triển KCN là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân KCN, gắn liền với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống, cũng như những yêu cầu về ổn định xã hội, an ninh quốc phòng trong khu vực có KCN cũng như toàn lãnh thổ quốc gia. Theo quan điểm trên, phát triển KCN Việt Nam phải được xem xét trên hai góc độ: - Duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động của bản thân KCN.
Điều này thể hiện: một là, bảo đảm các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của KCN; hai là, nâng cao khả năng cạnh tranh của 5 các KCN Việt Nam, (tính chất vượt trội trong quan hệ so sánh) với các đối thủ cạnh tranh khác có cùng tiêu chí so sánh; ba là, bảo đảm chất lượng môi trường trong nội bộ KCN. - Tác động lan tỏa tích cực của KCN đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, khu vực có KCN. Điều này được thể hiện trên các mặt: tạo sự chuyển dịch tích cực theo xu hướng CNH, HĐH và hướng về xuất khẩu; tác động tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực KCN; tác động tích cực và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, mà tựu trung lại là vấn đề tăng cường khả năng giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư trong vùng có KCN; hoạt động KCN luôn gắn liền với các phương án bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường. Phân loại các khu công nghiệp Trên một địa bàn (một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ) thường có một số KCN hoạt động bên cạnh nhau, được gọi là các KCN.
Có nhiều căn cứ để phân loại KCN, dưới đây là một số cách phân loại cơ bản: Căn cứ vào tính chất của dự án đầu tư: KCN được phân chia thành hai loại gồm KCN nhằm thu hút các nhà đầu tư vào xây dựng các cơ sở sản xuất mới và KCN nhằm mục đích di dời các cơ sở sản xuất cũ ở các nơi khác đến để thực hiện mục tiêu quy hoạch hoặc mục tiêu cải tạo môi trường. Ảnh hưởng của các KCN này đối với lợi ích xã hội rất khác nhau, bởi vậy Nhà nước phải có các chính sách khác nhau đối với mỗi loại KCN. Căn cứ vào điều kiện kinh doanh hạ tầng: Các KCN được chia thành hai nhóm gồm các KCN có điều kiện kinh doanh thuận lợi và các KCN gặp nhiều khó khăn. Các KCN kinh doanh thuận lợi thường nằm ở những vị trí địa lý thuận lợi hoặc ở những vùng kinh tế có thể dễ dàng thu hút các nhà đầu tư, có thể cho thuê đất với giá cao.
Đối với loại KCN này, có thể để các doanh nghiệp tự do kinh doanh thông qua cạnh tranh trên thị trường. Các KCN không thuận lợi thường nằm ở những khu vực địa lý có những bất lợi, ở các tỉnh kinh tế kém phát triển, điều kiện 6 kết cấu hạ tầng thấp kém nên khó thu hút các nhà đầu tư. Đối với loại KCN này, Nhà nước cần hỗ trợ các chi phí ban đầu để tạo đà phát triển, qua đó có thể đứng vững và thu hút các nhà đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu phát triển. Căn cứ theo địa giới hành chính hoặc vùng lãnh thổ: KCN phân bố theo lãnh thổ cũng như phân tích và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng phân bố không đồng đều để có chính sách điều chỉnh thích hợp.
Ngoài ra, tùy yêu cầu cụ thể có thể sử dụng tiêu thức khi phân loại KCN như theo hình thức sở hữu, theo quy mô, theo tính chất ngành nghề của các doanh nghiệp hoạt động trong KCN… Để phát triển các KCN, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế chính sách toàn diện, đồng bộ. Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, thẩm định kỹ trước khi thành lập và triển khai xây dựng chúng. Đặc điểm của khu công nghiệp Khu công nghiệp tập trung có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng như hệ thống cung cấp điện, nước; chung hệ thống xử lý nước thải, khí thải và các loại chất thải khác; chung giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan. Đầu ra của các doanh nghiệp còn có thể gắn bó với nhau như sản phẩm của nhà máy này còn là linh kiện phụ tùng cho sản phẩm của nhà máy kia, hoặc là nguyên liệu cho nhà máy kia…Vì vậy, các xí nghiệp này tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành của sản phẩm, cũng chính là tiết kiệm được chi phí cho xã hội.
- Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng quy chế riêng và ưu đãi riêng theo quy định của Chính phủ và cơ quan địa phương sở tại, có chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu công nghiệp để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và thuê đất, miễn hoặc giảm thuế. 7 - Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là thu hút từ nước ngoài hay các tổ chức, cá nhân trong nước. Ở các nước khác, Chính phủ thường bỏ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng ở Việt Nam thì Nhà nước không có đủ vốn, vì thế việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được kêu gọi đầu tư từ vốn trong và ngoài nước.
- Việc hình thành các KCN tạo nên sự liên kết với các cơ sở kinh tế trong nước, có tác dụng lan toả trước hết là khu vực xung quanh KCN. - Sản phẩm của các nhà máy, doanh nghiệp trong KCN chủ yếu dành cho xuất khẩu, hướng ra thị trường thế giới. Tuy nhiên để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, các nhà sản xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lượng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu. - Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế.
Do đó, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN lấy điều tiết của thị trường làm chỗ dựa chính. - KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài; hợp đồng, hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp vốn 100% vốn trong nước. - Hoạt động trong KCN là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng theo quy định của pháp luật. Vai trò của khu công nghiệp Việc hình thành các KCN là một tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là với các nước đang phát triển thì việc hình thành các KCN sẽ nhanh chóng thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng CNH, HĐH, vai trò của các KCN thể hiện ở các mặt chủ yếu dưới đây: Thứ nhất, các KCN là nơi thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước Với những ưu điểm nổi bật như cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, thuận tiện trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí sản xuất và xử lý 8 chất thải tốt, các KCN là một nhân tố để thu hút các nhà đầu tư.
Hơn nữa với quy chế quản lý và hệ thống chính sách ưu đãi; các KCN tạo ra được một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó giúp cho các nước có KCN có thêm vốn đầu tư, tiếp cận vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến cũng như phong cách quản lý hiện đại. Mặt khác, việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược của các công ty xuyên quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, tranh thủ thuế quan ưu đãi từ phía nước chủ nhà, khai thác thị trường rộng lớn ở các nước đang phát triển. Chính vì thế mà nguồn vốn đầu tư vào các địa bàn này không ngừng tăng lên.
Theo thống kê của Ngân hàng thế giới thì các dự án thực hiện trong KCN hầu hết đều do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực hiện.