Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển khoa học — công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chương 3: Thực trang phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phó Hồ Chí Minh. Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phó Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
CHUONG 1: TONG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHAP NGHIÊN CỨU CUA LUẬN ÁN 1. Téng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án 11. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến van đề khoa học - công nghệ Các nghiên cứu nước ngoài: Vào thế kỷ XX, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại, có nhiều công trình của các nhà lý luận nước ngoài bàn về khoa học và vai trò của khoa học đối với sự phát trién kinh tế - xã hội. Kế tục truyền thống dé cao vai trò của khoa học từ Demécrit, Arixtốt đến Phranxis Bécon, rồi đến C.
Mác, Alvin Toffler (1970, 1980, 1991) nhận thấy khoa học, kỹ thuật phát trién không ngừng tác động đến sản xuất và đời sóng, hình thành nên các làn sóng văn minh. Đến nay, nhân loại đã trải qua ba làn sóng văn minh: làn sóng văn minh nông nghiệp, làn sóng văn minh công nghiệp và làn sóng văn minh tin học (hay còn gọi là làn sóng văn minh trí tuệ). Làn sóng văn minh nông nghiệp bắt đầu từ cuối xã hội nguyên thủy, khi xã hội xuất hiện sự phân công lao động xã hội giữa trồng trọt và chăn nuôi, đến thé kỷ XVIL Làn sóng văn minh công nghiệp bat dau từ thế ky XVII, khi xuất hiện ngành sản xuất công nghiệp, đến nửa dau thé ky XX. Làn sóng văn minh tin học (văn minh tri tuệ) bắt đầu từ thập niên 60 của thé ky XX, khi xuất hiện thé hệ máy tính điện tử đầu tiên, kéo dai đến ngày nay.
Trong làn sóng văn minh trí tuệ, tri thức khoa học thê hiện sức mạnh to lớn đến mức làm thay đổi hắn nắc thang quyền lực của nhân loại. Có ba yếu t6 cơ bản tạo thành quyền lực của con người là bạo lực, của cải và trí tuệ. Song, vị trí của từng yếu t6 thay đôi, thăng tram qua các làn sóng văn minh. Trong làn sóng văn minh nông nghiệp, bạo lực ở ngôi thứ nhất cao nhất, của cải ngôi thứ hai, trí tuệ ở ngôi thứ ba, thấp nhất.
Trong làn sóng văn minh công nghiệp, của cải lên ngôi thứ nhất, bạo lực xuống thứ hai, trí tuệ ở ngôi thứ ba. Đến làn sóng văn minh trí tuệ, tri thức đại diện cho trí tuệ lên ngôi thứ nhất, của cải ở ngôi thứ hai, bạo lực xuống thứ ba trong nắc thang quyền lực. Ông viết: "Tri thức chuyên mình biến thành pham chat quyén luc t6i cao ngày nay, nó thay đổi dia vị phụ thuộc vào tiền bạc và bạo lực, mà thành ra vai trò cốt tủy của quyền lực, thậm chí nó còn mở rộng nguyên tắc tối cao của hai sức mạnh trước là bạo lực và của cải" (Alvin Toffler, 1991, p. Alvin Toffler cho rang tri thức, trí tuệ là nguồn lực to lớn nhất trong việc tạo ra của cải vật chat, tri thức không những không bao giờ cạn kiệt, mà trái lại, càng khai thác càng phát triển.
Các quan điểm của Alvin Toffler có những yếu tô hợp lý, có tính gợi suy, rat đáng dé chúng ta suy ngẫm. Song, ông đã sai lầm khi đề cao quá mức vai trò của tri thức khi cho rằng: ". trong tat cả nguồn tư liệu sáng tạo ra của cải, công năng lớn nhất vẫn là tri thức. Sự thật, thường thường tri thức có thê thay thé các nguồn tư liệu khác, nó là thứ lấy không bao giờ hết, dùng không bao giờ cạn.
Tri thức là sản phâm thay thé cho tat ca" (Alvin Toffler, 1991, p. Chúng ta đều biết rằng, về ban chat, tri thức là cái tinh than, là hình ảnh chủ quan của các sự vật khách quan được phan ánh vào trong bộ óc của con người. Tự ý thức thuần túy không bao giờ làm biến đổi được các sự vật vật chất, càng không thê thay thế được chúng. Ý thức chỉ thật sự có sức mạnh khi nó phản ánh đúng cấu trúc, bản chất và quy luật chỉ phối sự vật và phải được vận dụng đúng đắn vào hoạt động thực tiễn của con người, được vật chất hóa thành cơ sở lý luận của các phương tiện kỹ thuật, công nghệ do con người sáng tạo ra.
Về thực chất, thuyết ba làn sóng văn minh của Alvin Toffler vẫn không vượt ra khỏi khuôn khô thuyết kỹ trị đã lưu hành trong xã hội phương Tây nửa cuối thế kỷ XX. Bernal (1939) giới thiệu về cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và tác động to lớn của khoa học, kỹ thuật đối với sản xuất và sự phát triển xã hội. Tiếp thu quan điểm của C. Mác về "khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp", J.
Bernal chứng minh khoa học đang thực sự trở thành lực lượng sản xuất trong xã hội hiện đại. Theo ông, khoa học không chỉ bảo tồn, phát triển trí tuệ của con người, mà còn thực hiện chức năng xã hội cải thiện đời sống của nhân loại. Cũng giống như Bernal, (David Clandes, 1998) cho rằng KH - CN là tài sản quý giá, đồng thời thé hiện sức mạnh, năng lực phát triển của quốc gia. Nó là nguyên nhân tạo nên sự phát triển vượt bậc của các nước công nghiệp hàng đầu như Mỹ, Nhật bản, Đức, v.
Cũng như các nhà khoa học trước đấy, Thomas L. Friedman (2005) cũng đề cao quá mức vai trò của KH - CN so với yếu tố chính trị. Friedman phân tích tác động của khoa học, kỹ thuật, công nghệ đến sự phát trién kinh tế và cấu trúc chính trị thế giới đương đại trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, mà ông quan niệm là quá trình làm phăng thế giới. Ông phân tích mười nhân tố làm phăng thé giới như: xóa bỏ các rào cản giữa các quốc gia, khu vực; sự xuất hiện máy tính điện tử, mạng internet toàn cầu; công nghệ số, phần mềm xử lý công việc; kết nói cá nhân, kết nối cộng đồng; thuê làm việc bên ngoài mở ra khả năng làm việc cho các cá nhân ở các quốc gia dang phát triển; chuyên sản xuất ra nước ngoài phát triển các công ty xuyên quốc gia, hình thành và phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu; cung cấp, mở rộng thông tin; tăng cường các nhân tô xúc tác.nhăm tạo ra những giá trị gia tăng ngày càng lớn hơn.
Đồng thời, có ba yếu tổ hội tụ thế giới. Friedman, thế giới đang trở nên phăng hơn, không phải về địa lý, mà là về trình độ phát triển được rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia nhờ quá trình kết nói toàn cầu va sự phát triển của KH-CN. Cốt lõi của quá trình làm phang thé giới là sự xuất hiện và ứng dụng các công nghệ hiện đại, mà nổi bat là công nghệ điện tử - tin học vào sản xuất và đời sống. Yves Michaud (2002) tập trung vào những chủ đề lớn đang được tranh luận rộng rãi như toàn cầu hóa, phát triển bền vững, kinh tế tri thức, khoa học, phát triển và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế.
Đặc biệt là bài viết "Kinh tế và cải tiến kỹ thuật" của Jean -Hervé Lorenzi, Giáo sư kinh tế trường Đại học Paris -Dauphine, có vấn Ban lãnh đạo Công ty Tài chính Edmond de Rothschild Banque, Chủ tịch Câu lạc bộ các nhà kinh tế. Bài viết nay đã đề cập đến vai trò của KH - CN trong việc thúc day năng suất lao động từ đó kích thích kinh tế tăng trưởng và phát triển. Nếu như các tác giả trên tập trung nghiên cứu chung về tác động của KH - CN đến phát triển của một quốc gia, Thanh Le va Kam Ki Tăng (2011), tập trung làm rõ hai van dé: thứ nhất, bài viết cung cấp các mô hình định lượng các tác động của công nghệ cao R & D (nghiên cứu và phát triển) về sản lượng sản xuất công nghệ cao. Thứ hai, bài viết đã phát triển mô hình lý thuyết dé kiểm tra và xác định số lượng bất kỳ về sự tác động khác biệt giữa nghiên cứu khoa học và nghiên cứu công nghiệp trong sản xuất công nghệ cao.
Michael Danquah (201 1) lại chủ yếu nghiên cứu về các nhân tố tác động đến TFP. Michael Danquah sử dụng mô hình định lượng với mô hình tăng trưởng TFP theo nghiên cứu phụ thuộc đến 19 biến số (Michael Danquah, 2011) được thực hiện ở các quốc gia được chia thành 2 nhóm: nhóm quốc gia thuộc khối OECD và nhóm quốc gia không thuộc khối OECD (non - OECD). Ở khía cạnh phân chia 2 mặt là thay đối kỹ thuật và tiễn bộ kỹ thuật: hiệu qua đặc thù quốc gia và GDP là nhân tố chủ yếu tác động đến cả 2 mặt thay đổi kỹ thuật và tiễn bộ kỹ thuật. Mở cửa thương mại và thị phần tiêu thụ ảnh hưởng lớn đến sự thay đôi kỹ thuật; còn mở cửa thương mại chỉ anh hưởng lớn đến tiễn bộ kỹ thuật.
Ở khía cạnh chia mẫu nghiên cứu theo 2 nhóm nước thuộc khối OECD và không thuộc khối OECD, hiệu quả đặc thù quốc gia và GDP tác động đến cả 2 nhóm nước. Đối với nhóm thuộc khối OECD thì ngoài ảnh hưởng của 2 yêu tố trên, qua khảo sát còn có: chi phí đầu tư, thị trường tiêu thụ, mở rộng thương mại và lực lượng lao động cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng TFP. Còn với nhóm nước ngoài khối OECD thi yếu tô khuynh hướng tăng dân số lại được đánh giá cao ngoài 2 nhân tố chung kể trên. 10 Mô hình của Solow đã dé ra mô hình về thay đổi công nghệ ngoại sinh.
Ông chi ra rang thay đôi công nghệ là do các yếu tổ tac động từ bên ngoài. Trái với Solow, mô hình tăng trưởng nội sinh có gang khắc phục những khiếm khuyết của mô hình của Solow. Nếu mô hình Solow hoàn toàn nói về công nghệ mà không giải thích về thay đồi công nghệ thì mô hình nội sinh cho rằng tiến bộ công nghệ là kết quả của đầu tư vào vốn con người. Vì tác động lan tỏa từ đầu tư vào vốn con người sang năng suất vốn vật chat, von vật chat thé hiện suất sinh lời không đổi không giảm dần.