Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số: 62310102) của nghiên cứu sinh Hồ Việt Hà, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Chí Hải, mang tiêu đề: "Phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình CNH, HĐH ở Thành phố Hồ Chí Minh".
Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Theo các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/05/2022 của Thủ tướng Chính phủ về "Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030", mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cần chuyển dần từ chiều rộng (dựa vào vốn, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ) sang chiều sâu dựa trên khoa học - công nghệ (KH-CN) và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, tài chính, KH-CN và đổi mới sáng tạo lớn của khu vực phía Nam cũng như cả nước, sở hữu đội ngũ cán bộ KH-CN chiếm gần 40% lực lượng KH-CN toàn quốc. Tuy nhiên, hoạt động KH-CN tại Thành phố vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn: đầu tư còn phân tán, nhỏ lẻ; thiếu chuyên gia đầu ngành dẫn dắt các sản phẩm chủ lực; cơ chế chính sách chưa đồng bộ; năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế; mối liên kết giữa cơ quan quản lý, viện - trường và doanh nghiệp còn yếu. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu vắng một công trình tiếp cận có hệ thống dưới góc độ Kinh tế chính trị nhằm làm rõ bản chất của KH-CN như một yếu tố của lực lượng sản xuất, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đánh giá đóng góp thực tế của KH-CN đối với tiến trình CNH, HĐH tại một địa bàn đô thị đầu tàu như Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ thực trạng phát triển KH-CN phục vụ quá trình CNH, HĐH ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm thúc đẩy KH-CN tương xứng với tiềm năng của địa phương. Để thực hiện mục tiêu tổng quát, luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:
- Nghiên cứu có hệ thống và làm rõ cơ sở lý luận về khoa học, công nghệ, mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ, quá trình CNH, HĐH và vai trò của KH-CN đối với CNH, HĐH.
- Thu thập, xử lý tư liệu thực tế nhằm phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KH-CN phục vụ CNH, HĐH ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2001 đến nay, làm rõ các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả phát triển, ứng dụng KH-CN phục vụ CNH, HĐH tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng:
- Câu hỏi 1: Phát triển khoa học - công nghệ có mối quan hệ như thế nào với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa?
- Câu hỏi 2: Đóng góp của phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ra sao?
- Câu hỏi 3: Giải pháp nào để thúc đẩy phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh?
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự phát triển KH-CN trong quá trình CNH, HĐH ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Về nội dung: Luận án tiếp cận KH-CN dưới giác độ là một yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, phân tích các nhân tố tác động đến phát triển KH-CN và đánh giá vai trò của KH-CN trong tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu và nâng cao năng suất lao động.
- Về không gian: Nghiên cứu tập trung trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thời gian: Khảo sát dữ liệu thực tế từ năm 2001 (mốc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định KH-CN là nền tảng, động lực phát triển kinh tế - xã hội) đến giai đoạn 2020-2022 và định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm chủ đề chính:
Nhóm thứ nhất - Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề khoa học - công nghệ:
- Nghiên cứu quốc tế: Alvin Toffler (1970, 1980, 1991) với lý thuyết ba làn sóng văn minh (văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học/trí tuệ) và vai trò của tri thức; J. Bernal (1939) với luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; David S. Landes (1998) về KH-CN như tài sản quốc gia; Thomas L. Friedman (2005) về 10 nhân tố làm phẳng thế giới; Yves Michaud (2002) và Jean-Hervé Lorenzi về kinh tế tri thức và cải tiến kỹ thuật; Thanh Le và Kam Ki Tang (2011) mô hình hóa định lượng tác động của R&D trong sản xuất công nghệ cao; Michael Danquah (2011) với mô hình tăng trưởng TFP gồm 19 biến số ở các nước OECD và phi OECD; Robert Solow với mô hình tăng trưởng thay đổi công nghệ ngoại sinh; Robert E. Lucas và James Riedel (2015) với lý thuyết bắt kịp công nghệ nội sinh qua đầu tư vốn con người, nhập khẩu máy móc và FDI; Robert D. Atkinson và Stephen J. Ezell (2017) về cuộc đua đổi mới sáng tạo; Keun Lee (2021) phân tích ba mô hình bắt kịp của doanh nghiệp Hàn Quốc ("tạo con đường riêng", "bỏ qua giai đoạn", "đi theo con đường đã có").
- Nghiên cứu trong nước: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò phục vụ sản xuất của khoa học - kỹ thuật; Vũ Hồng Vận (2018) về xu thế nhất thể hóa KH-CN và sản xuất; Vũ Đình Cự và Trần Xuân Sầm (2006), Vũ Đình Cự (2009) về công nghệ cao và lực lượng sản xuất mới; Phạm Thị Ngọc Trầm (2003) về các mối quan hệ của KH-CN; Hoàng Anh Tuấn (2004) về thực trạng nguồn nhân lực KH-CN tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005) về quản lý KH-CN; Phạm Văn Dũng (2010) về thị trường KH-CN Việt Nam; Bộ Khoa học và Công nghệ (2016) trong Báo cáo "Khoa học và công nghệ Việt Nam 2015"; Đỗ Hoài Nam (2016) về đóng góp của TFP đối với tăng trưởng dài hạn; Nguyễn Sơn Hoa (2012) về đo lường kinh tế tri thức; TS. Tần Hạnh (2021) về xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh; Hoàng Xuân Long và Hoàng Lan Chi (2020) về phát triển KH-CN và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2030.
Nhóm thứ hai - Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
- Nghiên cứu quốc tế: J. Stalin (1976) về nền đại công nghiệp cơ khí; Dong Fureng (1992) về bài học CNH kết hợp nông thôn - thành thị ở Trung Quốc; SADC (2015) về chiến lược công nghiệp hóa khu vực Nam Phi; Mohamed Ariff và Hal Hill (1992), Shoichi Yamashita (1994), K.S. Jomo (2001) về quá trình chuyển đổi từ CNH thay thế nhập khẩu sang CNH hướng về xuất khẩu tại các nước ASEAN (Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan).
- Nghiên cứu trong nước: Mai Thị Thanh Xuân (2011) về các mô hình CNH; Đinh Thị Hoàng Phương (2019) về sáu đặc điểm CNH, HĐH tại Việt Nam; Phạm Anh (2018) về CNH gắn với kinh tế tri thức; Phùng Văn Ứng (2020) về tác động của KH-CN đến cơ sở kỹ thuật, cơ cấu kinh tế; Dương Quang Hiệp và Nguyễn Duy Nam (2018) về bài học chính sách NEP của Liên Xô; Vương Phương Hoa (2014) về CNH, HĐH tại thành phố Đà Nẵng; Trần Thị Vân Hoa (2018) đề xuất hệ 5 tiêu chí nước công nghiệp hiện đại (GNI/người $\ge$ 12.000 USD, lao động nông nghiệp $\le$ 20%, HDI $\ge$ 0,7, GII $\ge$ 53, EPI $\ge$ 55); Bùi Tất Thắng phân tích các nấc thang CNH của K. Ohno.
Nhóm thứ ba - Các công trình nghiên cứu phát triển KH-CN trong quá trình CNH, HĐH:
- Nghiên cứu quốc tế: Vladimir M. Mazyrin (2013) về mô hình hiện đại hóa dựa trên tri thức của Việt Nam; Wim Naudé, Adam Szirmai, Alejandro Lavopa (2013) và Ludovico Alcorta (2013) về chính sách công nghiệp bắt kịp công nghệ của khối BRICS; Elena I. Inshakova và cộng sự (2019) về số hóa nền kinh tế Nga.
- Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Chí Hải (1998) về vai trò của KH-CN với tăng trưởng kinh tế; Phan Xuân Dũng (2008) về công nghệ cao trong CNH; Ngô Văn Hải (2017) về nguồn lực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Phạm Văn Quý (2005), Trần Hồng Lưu (2011), Phạm Thị Mỹ Phượng (2016 tại Tiền Giang) về nguồn nhân lực và tri thức khoa học; Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2012) về chiến lược KH-CN đến năm 2020; Đỗ Văn Thắng (2016) nghiên cứu mối quan hệ giữa KH-CN với CNH, HĐH tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc nhìn triết học.
Bảng tổng hợp phân loại tài liệu nghiên cứu liên quan theo văn bản:
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả quốc tế tiêu biểu |
Tác giả trong nước tiêu biểu |
| Khoa học - công nghệ như một yếu tố của LLSX và tăng trưởng |
Alvin Toffler, J. Bernal, David S. Landes, Thomas L. Friedman, Thanh Le, Michael Danquah, James Riedel, Keun Lee |
Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Vận, Vũ Đình Cự, Trần Xuân Sầm, Hoàng Anh Tuấn, Phạm Văn Dũng, Đỗ Hoài Nam, Nguyễn Sơn Hoa |
| Mô hình và chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa |
J. Stalin, Dong Fureng, SADC, Mohamed Ariff, Hal Hill, Shoichi Yamashita, K.S. Jomo |
Mai Thị Thanh Xuân, Đinh Thị Hoàng Phương, Phạm Anh, Phùng Văn Ứng, Vương Phương Hoa, Trần Thị Vân Hoa, Bùi Tất Thắng |
| Tác động của KH-CN đối với quá trình CNH, HĐH |
Vladimir M. Mazyrin, Wim Naudé, Adam Szirmai, Alejandro Lavopa, Elena I. Inshakova |
Nguyễn Chí Hải, Phan Xuân Dũng, Ngô Văn Hải, Phạm Văn Quý, Trần Hồng Lưu, Phạm Thị Mỹ Phượng, Đỗ Văn Thắng |
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước đây hoặc tiếp cận KH-CN thuần túy về mặt kỹ thuật, hoặc nghiên cứu CNH, HĐH ở quy mô quốc gia, hoặc chỉ xem xét một khía cạnh riêng lẻ (nguồn nhân lực, thị trường công nghệ, công nghệ cao). Luận án này tập trung nghiên cứu toàn diện việc phát triển KH-CN như một bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất phục vụ quá trình CNH, HĐH trên địa bàn cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ Kinh tế chính trị, phân tích thực trạng các nhân tố cấu thành và đề xuất giải pháp đồng bộ theo định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý luận của Kinh tế chính trị Mác - Lênin về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và luận điểm "khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp", kết hợp với đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH, HĐH và vai trò nền tảng, then chốt của KH-CN.
Các khái niệm cơ bản được luận án chuẩn hóa bao gồm:
- Khoa học: Là kết quả hoạt động nhận thức có kế hoạch của con người nhằm thu nhận hệ thống tri thức chân thực về bản chất, quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan và tư duy, được thực tiễn kiểm nghiệm và chỉ đạo thực tiễn.
- Kỹ thuật: Là tổng thể các công cụ, phương tiện vật chất do con người tạo ra, được xem xét ở trạng thái tĩnh và cấu trúc vật chất.
- Công nghệ: Luận án sử dụng khái niệm công nghệ là tổng hợp những công cụ, phương tiện do con người sáng tạo ra và phương thức vận hành, phương thức kết hợp các phương tiện đó trong sản xuất và đời sống. Theo khung phân tích của ESCAP, công nghệ gồm 4 thành phần tương tác:
- Thành phần kỹ thuật (Technology - T): Máy móc, thiết bị, phần cứng.
- Thành phần con người (Human - H): Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, năng lực sáng tạo.
- Thành phần thông tin (Information - I): Dữ liệu, thông số kỹ thuật, quy trình vận hành và bảo dưỡng.
- Thành phần tổ chức (Organization - O): Bố trí nhân sự, phân bổ nguồn lực, quản lý và liên kết vận hành.
- Phát triển KH-CN: Quá trình vận động đi lên theo chiều hướng hoàn thiện hơn về chất lượng và quy mô của cả hai lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Phương pháp nghiên cứu trong luận án hoàn toàn là các phương pháp định tính và thống kê mô tả, kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích các chỉ tiêu kinh tế - xã hội.
- Phương pháp thống kê mô tả, so sánh và đối chiếu: So sánh tốc độ tăng trưởng GRDP, tỷ trọng các ngành, năng suất lao động, vốn FDI, chi tiêu R&D của Thành phố Hồ Chí Minh qua các giai đoạn và so với cả nước hoặc các nền kinh tế khác.
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn chuyên gia: Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 7 chuyên gia (gồm 1 Phó Giáo sư, 4 Tiến sĩ, 2 Thạc sĩ) công tác tại Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Thống kê Kinh tế thuộc Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học và Công nghệ tính toán và một số trường đại học trên địa bàn. Bộ câu hỏi phỏng vấn gồm 5 nội dung: (1) Các yếu tố tác động đến phát triển KH-CN; (2) Cơ hội và tiềm năng phát triển KH-CN tại Thành phố Hồ Chí Minh; (3) Khó khăn, vướng mắc trong phát triển KH-CN thời gian qua; (4) Giải pháp thúc đẩy KH-CN trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0; (5) Đánh giá chiến lược phát triển KH-CN của Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguồn dữ liệu sử dụng:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố, số liệu thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục Thống kê, Hệ thống thông tin thống kê KH-CN (CESTI), các tạp chí, đề tài khoa học và kỷ yếu hội thảo.
- Dữ liệu sơ cấp: Kết quả phỏng vấn trực tiếp 7 chuyên gia chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của luận án
Chương này thực hiện việc hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về KH-CN, CNH-HĐH và tác động tương hỗ giữa KH-CN đối với tiến trình CNH, HĐH. Tác giả chỉ ra những luận điểm đã được chứng minh trong y văn như vai trò nâng cao năng suất của KH-CN, mô hình tăng trưởng nội sinh và lý thuyết bắt kịp công nghệ. Đồng thời, chương 1 xác định khoảng trống nghiên cứu, trình bày khung phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý (Sở KH&CN, Cục Thống kê, CESTI) và dữ liệu sơ cấp từ phỏng vấn 7 chuyên gia.
Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm, luận giải bản chất của khoa học, công nghệ, kỹ thuật và mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Tác giả phân tích cấu trúc 4 thành phần công nghệ (T-H-I-O), các tiêu chí của phát triển KH-CN, khái niệm và các mô hình CNH, HĐH trên thế giới cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội. Chương này phân tích 5 vai trò cơ bản của KH-CN đối với CNH, HĐH: (1) Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng; (2) Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (3) Nâng cao năng lực cạnh tranh; (4) Nâng cao năng suất lao động; (5) Cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái, hướng đến phát triển bền vững. Ngoài ra, chương 2 tổng kết bài học kinh nghiệm phát triển KH-CN trong CNH từ Đài Loan, Hàn Quốc (các mô hình nhảy vọt "tạo con đường riêng", "bỏ qua giai đoạn") và Israel để rút ra bài học cho Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thiện bằng sơ đồ khung phân tích (Hình 2.1).
Chương 3: Thực trạng phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm phát triển KH-CN tại địa phương. Các nội dung thực trạng được mổ xẻ chi tiết:
- Thể chế, chính sách và bộ máy: Rà soát việc thực hiện các nghị quyết, cơ chế quản lý nhà nước về KH-CN.
- Cơ cấu và tiềm lực: Phân tích số lượng tổ chức KH-CN theo lĩnh vực và loại hình kinh tế; trình độ công nghệ sản xuất và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, công nghệ thông tin trong doanh nghiệp.
- Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: Luận án ghi nhận cả nước có khoảng 3.000 startup, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng 50%, tập trung vào các lĩnh vực: Công nghệ thông tin (41,1%), nông nghiệp ứng dụng công nghệ (20,13%), công nghệ giáo dục (16,11%), IoT (9,4%), chế biến thực phẩm (6,71%), du lịch (3,36%) và công nghệ tài chính (0,67%). Vốn đầu tư khởi nghiệp thành công tính đến tháng 10/2020 của Thành phố đạt hơn 600 triệu USD trên tổng số khoảng 800 triệu USD của cả nước. Thành phố có 34 tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp (24 cơ sở ươm tạo, tăng tốc và 10 không gian làm việc chung với diện tích khoảng 30.000 m²), triển khai xây dựng Trung tâm Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo tại 123 Trương Định, Quận 3.
- Nguồn nhân lực và tài chính: Tỷ lệ nhân lực KH-CN theo trình độ, lĩnh vực đào tạo; tỷ lệ đầu tư cho KH-CN từ ngân sách và xã hội so với GRDP giai đoạn 2015-2020.
- Hợp tác quốc tế: Số lượng nhiệm vụ KH-CN hợp tác quốc tế, công bố khoa học tại các tổ chức hàng đầu năm 2022.
- Đóng góp vào phát triển kinh tế: Đánh giá tốc độ tăng trưởng GRDP (2010-2020), chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI), giá trị xuất khẩu, năng suất lao động các ngành công nghiệp trọng điểm và dịch vụ, cùng tỷ lệ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế của Thành phố.
- Đánh giá chung: Chỉ rõ các thành tựu, cùng các hạn chế như đầu tư nhỏ lẻ, thiếu chuyên gia đầu ngành, năng lực hấp thụ công nghệ thấp, mối liên kết "3 nhà" (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) còn lỏng lẻo và phân tích nguyên nhân của thực trạng.
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn 2045
Chương 4 xác định cơ sở khoa học, bối cảnh trong nước và quốc tế (Cách mạng công nghiệp 4.0, Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị), từ đó đưa ra quan điểm và mục tiêu phát triển KH-CN tại Thành phố. Tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực KH-CN chất lượng cao, thu hút chuyên gia đầu ngành và trí thức trẻ.
- Tăng cường và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho KH-CN (kết hợp ngân sách nhà nước và xã hội hóa).
- Phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, truyền thông hướng đến nền kinh tế số.
- Tăng cường năng lực KH-CN gắn liền với phát triển kinh tế tri thức.
- Thực hiện quản lý KH-CN gắn với xây dựng mô hình chính quyền đô thị, chính quyền điện tử, đô thị thông minh.
- Phát triển mạnh mẽ thị trường KH-CN, kết nối cung - cầu công nghệ.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về nghiên cứu, tiếp nhận và chuyển giao KH-CN tiên tiến.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về phát triển KH-CN trong quá trình CNH, HĐH từ cách tiếp cận của Kinh tế chính trị học.
- Xác định và luận giải rõ vị trí, vai trò của KH-CN như một yếu tố nội sinh của lực lượng sản xuất hiện đại; phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa 4 thành phần công nghệ (T-H-I-O) và cơ chế tác động của KH-CN đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành và nâng cao năng suất lao động.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện và có hệ thống về thực trạng phát triển KH-CN tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến nay thông qua hệ thống dữ liệu thống kê thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia.
- Xác định rõ các điểm nghẽn thực tế cản trở phát triển KH-CN của Thành phố: tình trạng đầu tư phân tán, thiếu hụt đội ngũ chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt công nghệ chủ lực, cơ chế quản lý và chuyển giao công nghệ chưa thông suốt, mối liên kết giữa viện - trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo.
- Đề xuất hệ thống 7 nhóm giải pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường vốn đầu tư, phát triển thị trường KH-CN, đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp phục vụ mục tiêu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi không gian: Luận án giới hạn nghiên cứu tại một địa phương cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng so sánh định lượng đa chiều với các đô thị lớn khác trong nước hoặc các trung tâm kinh tế tương đồng trong khu vực Đông Nam Á.
- Về phương pháp: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào phương pháp định tính, thống kê mô tả và phỏng vấn chuyên gia; chưa xây dựng các mô hình kinh tế lượng định lượng chuyên sâu để kiểm định mức độ tác động riêng biệt của từng thành phần công nghệ đến tăng trưởng kinh tế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang mối liên kết phát triển KH-CN giữa Thành phố Hồ Chí Minh với toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và vùng Đông Nam Bộ.
- Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng để lượng hóa chi tiết hơn tác động của chuyển đổi số và các chính sách KH-CN cụ thể đối với năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của Thành phố.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng kế hoạch phát triển KH-CN, chính sách hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và cơ chế thu hút nhân tài.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo về Kinh tế chính trị học, Quản lý kinh tế, các lý thuyết về CNH, HĐH, kinh tế tri thức và phương pháp phân tích thực trạng KH-CN cấp địa phương.
- Các tổ chức KH-CN, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp: Tham khảo nội dung phân tích về cơ cấu 4 thành phần công nghệ (T-H-I-O) và giải pháp thúc đẩy liên kết chuyển giao công nghệ giữa trường viện và doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, công nghệ được cấu thành bởi những thành phần nào theo khung phân tích lý luận?
Theo luận án (kế thừa định nghĩa của ESCAP), công nghệ gồm 4 thành phần chính: (1) Kỹ thuật (Technology - T) gồm máy móc, thiết bị; (2) Con người (Human - H) gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng; (3) Thông tin (Information - I) gồm dữ liệu kỹ thuật, quy trình vận hành; (4) Tổ chức (Organization - O) gồm việc phân bổ nguồn lực, bố trí nhân sự và phương thức quản lý.
2. Thực trạng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh được ghi nhận với những số liệu cụ thể nào?
Tính đến giai đoạn khảo sát trong luận án, Việt Nam có khoảng 3.000 startup thì Thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng 50%. Các lĩnh vực tập trung gồm: Công nghệ thông tin (41,1%), nông nghiệp ứng dụng công nghệ (20,13%), công nghệ giáo dục (16,11%), IoT (9,4%), chế biến thực phẩm (6,71%), du lịch (3,36%) và công nghệ tài chính (0,67%). Thành phố chiếm hơn 600 triệu USD trên tổng số khoảng 800 triệu USD vốn đầu tư khởi nghiệp của cả nước; sở hữu 34 tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp (24 cơ sở ươm tạo/tăng tốc và 10 không gian làm việc chung với diện tích khoảng 30.000 m²).
3. Đội ngũ chuyên gia được phỏng vấn sơ cấp trong luận án gồm những ai và thuộc cơ quan nào?
Tác giả đã phỏng vấn 7 chuyên gia (1 Phó Giáo sư, 4 Tiến sĩ và 2 Thạc sĩ) đang công tác tại: Ban Quản lý Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Thống kê Kinh tế thuộc Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học và Công nghệ tính toán và các trường đại học trên địa bàn Thành phố.
4. Những hạn chế chính của ngành KH-CN Thành phố Hồ Chí Minh được Sở KH&CN và luận án chỉ ra là gì?
Các hạn chế chính gồm: Đầu tư cho KH-CN còn hạn chế, nhỏ lẻ và tản mạn; thiếu các tập thể khoa học mạnh và chuyên gia đầu ngành dẫn dắt sản phẩm chủ lực; cơ chế chính sách chưa đồng bộ; cơ sở vật chất trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu; năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp còn thấp; liên kết giữa cơ quan quản lý, viện - trường và doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng còn yếu.
5. Luận án đề xuất bao nhiêu nhóm giải pháp chủ yếu để phát triển KH-CN phục vụ CNH, HĐH tại Thành phố Hồ Chí Minh?
Luận án đề xuất 7 nhóm giải pháp chủ yếu tại Chương 4: (1) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; (2) Tăng cường vốn đầu tư cho KH-CN; (3) Phát triển và ứng dụng CNTT hướng đến kinh tế số; (4) Tăng cường năng lực KH-CN gắn với kinh tế tri thức; (5) Quản lý KH-CN gắn với chính quyền điện tử, đô thị thông minh; (6) Phát triển thị trường KH-CN; (7) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Hồ Việt Hà là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ Kinh tế chính trị về phát triển khoa học - công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001-2024. Thông qua việc phân tích khung lý thuyết 4 thành phần công nghệ, điểm luận các công trình trong và ngoài nước, cùng phương pháp định tính kết hợp số liệu thống kê và phỏng vấn 7 chuyên gia, luận án đã làm rõ những thành tựu đạt được cũng như các nút thắt nội tại của địa phương. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng 7 nhóm giải pháp mang tính khả thi nhằm định hướng phát triển KH-CN đến năm 2030, tầm nhìn 2045, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho công tác quản lý và nghiên cứu học thuật.