Chương 1:Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động tín dụng của tổ chức tài chính vi mô Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động tín dụng tại Tổ Chức TCVM Tình Thƣơng Chi nhánh Diễn Châu, Nghệ An. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động tín dụng tạiTổ Chức TCVM Tình Thƣơng Chi nhánh Diễn Châu, Nghệ An 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA TỔ CHỨCTÀI CHÍNH VI MÔ 1. Tổng quan về tài chính vi mô 1. Khái niệmtài chính vi mô Hiện nay, trong giới thực hành và nghiên cứu tài chính vi mô tồn tại một số cách định nghĩa khác nhau về hoạt động này.
Dƣới đây là một số định nghĩa tiêu biểu về tài chính vi mô: Tài chính vi mô, theo định nghĩa của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), là hoạt động cung cấp một phạm vị rộng lớn các dịch vụ tài chính nhƣ các khoản cho vay nhỏ, tiết kiệm vi mô, bao hiểm vi mô, chuyển tiền, thanh toán … cho các hộ gia đình nghèo hoặc có thu nhập thấp, cũng nhƣ tài trợ cho các hoạt động kinh doanh rất nhỏ của họ. Một định nghĩa khác đƣợc đƣa ra bởi Ngân hàng Thế Giới (World Bank – WB): ( Tài chính vi mô đƣợc coi là một phƣơng pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cƣ thu nhập thấp (kể cả phụ nữ và nam giới). Thuật ngữ này đề cập tới dịch vụ tài chính cho các khách hàng có thu nhập thấp, bao gồm cả những đối tƣợng làm ăn cá thể. Các dịch vụ tài chính nói chung bao gồm tiết kiệm và tín dụng, tuy nhiên một số tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ nhƣ bảo hiểm và thanh toán”.
Để tạo điều kiện cho hoạt động tài chính vi mô trong nƣớc phát triển, trong năm 2005, Ngân hàng Nhà Nƣớc Việt Nam ban hành Nghị Định số 28 để điều chỉnh họat động này. Trong Điều 2, khoản 1 đã định nghĩa tài chính vi mô (tài chính quy mô nhỏ) nhƣ sau: “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ và đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là những ngƣời nghèo và hộ gia đình nghèo”. Tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình nghèo các khoản vay rất nhỏ nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoặc 10 khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ. Tài chính vi mô thƣờng kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác nhƣ tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm vì những ngƣời nghèo và ngƣời rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhƣng không tiếp cận đƣợc các thể chế tài chính chính thức.
Tài chính vi mô khác tín dụng vi mô là: Tài chính vi mô đề cập đến các hoạt động cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, chuyển giao dịch vụ và các sản phẩm tài chính khác cho nhóm khách hàng có thu nhập thấp. Tín dụng vi mô chỉ đơn giản là một khoản cho vay nhỏ, do ngân hàng hoặc tổ chức nào đó cấp. Tín dụng vi mô thƣờng dành cho cá nhân vay, không cần tài sản thế chấp hoặc không thông qua việc cho vay theo nhóm. Ngƣời nghèo, cũng giống nhƣ tất cả mọi ngƣời, cần có nhiều loại công cụ tài chính để tích lũy tài sản, bình ổn chi tiêu và tự bảo vệ mình trƣớc rủi ro.
Chính vì thế, theo nghĩa rộng, tài chính vi mô là việc tìm ra phƣơng cách hiệu quả và đáng tin cậy để cung cấp ngày càng nhiều hơn các sản phẩm tài chính vi mô.Tài chính vi mô có thể giúp ngƣời nghèo tăng thu nhập, tạo lập hoạt động kinh tế bền vững và giảm khả năng dễ bị tổn thƣơng trƣớc các cú sốc từ bên ngoài. Tài chính vi mô cũng là công cụ mạnh mẽ giúp ngƣời nghèo, đặc biệt phụnữ, tăng cƣờng quyền lực kinh tế và trở thành các chủ thể kinh tế. Tổ chức tài chính vi mô Tổ chức tài chính vi mô là một tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính cho những ngƣời có thu nhập thấp. Hầu hết các tổ chức tài chính vi mô đều cho vay những khoản vay nhỏ và chỉ nhận những khoản tiết kiệm rất nhỏ từ ngƣời vay chứ không phải từ công chúng.
Trong ngành tài chính vi mô, thuật ngữ này dùng để chỉ các tổ chức đƣợc thành lập để cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô, ví dụ: các tổ chức phi Chính phủ, Liên minh tín dụng, Hợp tác xã tín dụng, Ngân hàng thƣơng mại, các tổ chức tài chính phi Ngân hàng và một bộ phận nào đó của Ngân hàng Nhà nƣớc. 11 Nhiều tổ chức phi Chính phủ có thể không đồng tình với quan điểm cho rằng họ là các tổ chức tài chính (mặc dù họ cung cấp phần lớn các khoản tín dụng vi mô). Nguyên nhân là do, song song với việc cung cấp tín dụng vi mô, các tổ chức phi Chính phủ còn thực hiện nhiều hoạt động phi tài chính vì mục đích phát triển khác. Tuy nhiên, xét từ lĩnh vực hoạt động, chúng ta có thể gọi các tổ chức phi Chính phủ là các tổ chức tài chính vi mô vì họ tham gia vào việc cung cấp dịch vụ tài chính cho ngƣời nghèo.
Tƣơng tự nhƣ vậy, một số Ngân hàng thƣơng mại cung cấp dịch vụ tài chính vi mô cũng đƣợc gọi là tổ chức tài chính vi mô ngay cả khi chỉ một phần rất nhỏ trong tài sản của họ đƣợc huy động cho mục đích cung cấp dịch vụ tài chính vi mô. Ngoài ra, cũng có các tổ chức khác tham gia vào hoạt động tài chính vi mô và đóng một vai trò nhất định trong lĩnh vực tài chính. Đó là các trung gian tài chính dựa vào cộng đồng, nhƣ: Liên minh tín dụng, Hiệp hội nhà ở hoạt động trên cơ sở hội viên. Một số loại hình tổ chức tài chính vi mô khác do các nhà kinh doanh hoặc Chính quyền địa phƣơng quản lý thƣờng có quy mô khách hàng lớn hơn so với các tổ chức phi Chính phủ và là một bộ phận trong khu vực tài chính chính thức.
Mặc dù loại hình tổ chức tín dụng vi mô này không tiếp cận đƣợc sâu tới những ngƣời nghèo nhƣ các tổ chức phi Chính phủ, nhƣng nhiều ngƣời nghèo đã tiếp cận đƣợc vốn của các tổ chức này với mức độ khác nhau ở các nƣớc khác nhau. Nhƣ vậy, có thể hiểu tổ chức tài chính vi mô là tổ chức tài chính chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính nhƣ cho vay, tiết kiệm, chuyển tiền, bảo hiểm,. cho những ngƣời có thu nhập thấp. Theo định nghĩa trên, tài chính vi mô là hoạt động tài chính cho ngƣời nghèo và hƣớng tới ngƣời nghèo.
Trọng tâm lớn nhất và không thay đổi từ khi hình thành của họat động này là xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho 12 bộ phận những ngƣời có thu nhập thấp. Có lẽ chính bởi mục tiêu này, mà khi bắt đầu hình thành, ngƣời ta thƣờng coi đây là một hoạt động mang tính chất từ thiện. Theo lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn”, cách hiệu quả nhất để giúp những ngƣời nghèo không còn nghèo nữa là cung cấp vốn cho họ. Chính từ suy nghĩ này, trƣờng phái đầu tiên trong hoạt động tài chính vi mô ra đời, trong khoảng thời gian những năm 1940 đến cuối những năm 1960, với trọng tâm cung cấp càng nhiều càng tốt các khoản vốn cho ngƣời nghèo.
Đối với họ, một phần do nhầm lẫn với hoạt động từ thiện, việc hoàn trả các khỏan vay thƣờng không đƣợc chú trọng tới. Bên cạnh đó, lãi suất áp dụng cho các khoản vay thƣờng rất thấp. Nếu đứng trên khía cạnh quan điểm về lãi suất để phân chia các trƣờng phái hoạt động tài chính vi mô thì đây đƣợc coi là giai đoạn chạy theo lãi suất bao cấp đƣợc chủ động không chỉ bởi tổ chức cung cấp mà còn đƣợc khuyến khích bới chính các chính phủ. Sau một thời gian áp dụng phƣơng châm hoạt động tài chính vi mô trên, các chính phủ cũng nhƣ các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô nhận thấy hiệu quả không đáng kể của hoạt động này.
Vào những năm 1970, trƣờng phái hạn chế tín dụng đƣợc hình thành. Theo đó, việc cung cấp các khỏan vay đƣợc nhìn nhận và đánh giá thận trọng hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng lãi suất cho hoạt động tài chính vi mô trong thời gian này vẫn là lãi suất bao cấp. Điều này có thể đƣợc giải thích bởi những định kiến về ngƣời nghèo cũng nhƣ khả năng tài chính của họ vẫn còn nặng nề trong một bộ phận lớn những nhà hoạch định cũng nhƣ những nhà hoạt động tài chính vi mô.
Vào giữa những năm 1970, những ngƣời theo tƣ tƣởng mới bắt đầu thủ nghiệm những mô hình cung cấp dịch vụ tài chính vi mô mới cũng nhƣ áp dụng lãi suất thƣơng mại vào họat động này. Đây là những ngƣời cởi bỏ 13 những quan điểm đã cũ và không đúng về ngƣời nghèo. Theo họ, ngƣời nghèo hoàn toàn có khả năng tiêt kiệm và trả nợ. Điều quan trọng khi thiết kế một sản phẩm tài chính cho ngƣời nghèo không nằm ở việc làm cho giá thật rẻ mà làm sao cho ngƣời nghèo có thể tiếp cận tới một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Một loạt các điển hình thành công đã xuất hiện trong giai đoạn này nhƣ Grameen Bank ở Bangladesh, ACCION ở Brazil,… Tuy nhiên, đứng trên các nhà hoạch định chính sách, sự bất đồng với quan điểm về lãi suất cho vay đối với tín dụng vi mô vẫn cọn mạnh mẽ. Rất nhiều chƣơng trình của chính phủ vẫn tiếp tục sử dụng lãi suât trợ cấp bởi nhiều lý do. Kể từ những năm 1980 tới nay, họat động tài chính vi mô đã thực sự phát triển mạnh mẽ. Về phía các sản phẩm và dịch vụ, các tổ chức tài chính vi mô không chỉ cung cấp đơn thuần các khoản vay nhỏ mà còn mở rộng ra nhiều sản phẩm tài chính khác nhƣ tiết kiệm, bảo hiểm, giáo dục đào tạo… Về số lƣợng các tổ chức tài chính vi mô thì tính cho tới năm 2003, đã có trên 10.000 tổ chức cung cấp các dịch vụ tới hơn 80 triệu ngƣời nghèo tại các nƣớc đang phát triển ở Châu Á, Nam Mỹ và Châu Phi.
Với sự mở rộng này, mạg lƣới liên kết các tổ chức đƣợc mở ra rộng rãi, hàng loạt các nghiên cứu và hợp tác phát triển đã đƣợc thực hiện với mục tiêu là mở rộng hơn nữa họat động tài chính vi mô.