Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về phát triển Lucien Febvre, nhà nghiên cứu xã hội học Pháp nói: không bao giờ mất thì giờ vô ích để khảo cứu về lịch sử một tử, khi ông ta nghiên cứu từ văn minh. Tôi cũng muốn áp dụng quan điểm đó để nghiên cứu lịch sử của khái niệm phát triển.
Một số nhà nghiên cứu khoa học xã hội phương Tây, đặc biệt là Pháp, đã nêu rõ là khái niệm phát triển chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX; cụ thể là những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Từ phát triển ba lần được sử dụng trong bản báo cáo gồm 14 điểm của tổng thống Mỹ Wilson. Trong các tài liệu của Hội Quốc liên năm 1919, khái niệm phát triển được sử dụng đi đôi với khái niệm không phát triển, chậm phát triển. Khái niệm phát triển lúc này gắn với khái niệm văn minh.
Chính là với khái niệm đó mà chủ nghĩa thực dân phương tây đã tự cho mình có nhiệm vụ lịch sử đem ánh sáng văn minh đến khai hóa cho các dân tộc lạc hậu, dã man. Mãi sau này, đến những năm 30, khái niệm phát triển mới gắn với kinh tế, và lúc này người ta sử dụng nó gần như đồng nhất với phát triển kinh tế. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khi đã thành lập Liên hợp quốc, các chuyên gia của tổ chức quốc tế này mới bắt đầu nêu ra lý thuyết về phát triển. Diễn văn của tổng thống Mỹ Truman năm 1949 nêu vấn đề trách nhiệm của Mỹ trong chương trình mang chủ đề phát triển các vùng chậm phát triển.
Vào thời điểm này, ngay cả những nhà kinh tế học lỗi lạc như Francois Perroux và Samir Amin vẫn chưa có sự phân biệt rõ rệt giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển. Một số nhà khoa học xã hội khác của phương Tây lại có ý kiến cho rằng khái niệm phát triển bắt nguồn từ thuyết tiến hóa của Darwin. Thời kỳ thế kỷ ánh sáng, nó gắn với khái niệm tiến bộ được Condorcet nêu lên. m 6 Cho đến thập kỷ 70, xuất hiện sự lạm phát các khái niệm về phát triển: phát triển về liên đới, phát triển về nội sinh, phát triển về cộng đồng, phát triển về hội nhập, phát triển về sinh thái, phát triển xã hội chủ nghĩa.
Phải đợi đến những năm 80 và đầu những năm 90 mới có những lý thuyết về phát triển kinh tế gắn với sự phát triển con người được xem như là nhân vật chủ thể, động lực chính trong sự phát triển kinh tế và xã hội. Ở đây cần nói đến lý thuyết về sự phát triển bền vững (sustainable development). Xuất phát từ sự phá hoại ghê gớm môi trường, đe dọa sự tồn tại của các thế hệ tương lai, Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển (mang tên Ủy ban Brundtland) đưa ra trong báo cáo năm 1987 “Tương lai của chúng ta” nhấn mạnh trách nhiệm của tất cả mọi người trên thế giới “trong khi đáp ứng những nhu cầu của thế hệ hiện tại thì không được làm ảnh hưởng đến sự thỏa mãn những nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Nhìn lại một cách khái quát, về căn bản trong mấy thập kỷ qua, các lý thuyết về phát triển dù có khác nhau ở điểm này hay ở điểm khác, nhưng vẫn lấy châu Âu làm trung tâm (eurocentrisme) hoặc phương Tây làm trung tâm (occidentocentrisme).
Chính theo quan điểm đó mà trong một thời gian dài người ta lấy thu nhập tính theo đầu người/năm để xét một nước nào đó thuộc loại phát triển hay kém phát triển. tiêu chuẩn cơ bản để xét trình độ phát triển như vậy rõ ràng là quá hạn hẹp, không phản ánh đầy đủ thực tiễn. Do đó, năm 1990, Liên hợp quốc đã đưa ra những tiêu chuẩn bổ sung để xếp hạng các nước trên thế giới về sự phát triển của con người trên cơ sở ba tiêu chuẩn cơ bản: + Sử dụng các nguồn lực cần cho cuộc sống đáng kính trọng.Trong tiêu chuẩn này lấy thu nhập đầu người /năm là chính. + Trình độ giáo dục - kiến thức.
Đó là tiến bộ nhưng chưa đủ. Những chỉ số nói trên vẫn được tiếp tục bổ sung về nội dung để ngày càng tiếp cận sát hơn với thực tiễn cuộc sống. Ví như chỉ số GDP được bổ sung bằng các chỉ số PPP (purchasing power m 7 parity) để cho thấy rõ khả năng mua trong thực tế của GDP. Hệ số Gini cũng đã được sử dụng (tỷ số giữa GNP đầu người và GDP thực trên đầu người - PPP) để thể hiện sự không đều về thu nhập, tuổi thọ của các tầng lớp xã hội khác nhau, của giới nam, nữ khác nhau.
Gần đây, năm 1997, Liên hợp quốc đưa thêm chỉ số nghèo (Human poverty indicator) vào chỉ số phát triển con người HDI (Human Development Indicator). Hiện nay, khái niệm về phát triển vẫn còn tiếp tục là vấn đề tranh luận giữa các nhà nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách trên thế giới. Chưa bao giờ trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, vấn đề phát triển được nêu lên thành một trọng tâm hàng đầu như hiện nay. Hầu như không có lĩnh vực nghiên cứu nào không gắn với phát triển: tài nguyên con người và phát triển, môi trường và phát triển, phụ nữ, gia đình và phát triển, dân tộc và phát triển, tôn giáo và phát triển.
Trong những năm gần đây, Diễn đàn của thế giới thứ ba tập hợp khoảng 1000 nhà nghiên cứu khoa học xã hội ở châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh có trụ sở ở Dakar (Sénégal) cũng quan tâm nghiên cứu những vấn đề phát triển của thế giới thứ ba. Quan điểm của tổ chức này cho rằng cần nghiên cứu vấn đề của các nước thuộc thế giới thứ ba theo một phương pháp liên ngành bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Phải xem xét thế giới thứ ba như một bộ phận cấu thành của thế giới, nhưng phải xem xét nghiên cứu thế giới (cụ thể hơn là trật tự thế giới mới) theo quan điểm của phương Nam. Chúng tôi khái quát lại bằng việc đưa ra một khái niệm về phát triển: Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.org/vi/news/Tin- tuc/VE-KHAI-NIEM-PHAT-TRIEN-199) m 8 1.
Khái niệm tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, phản ánh quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có mục đích và bảo đảm tiền vay. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa.
Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Theo nghĩa nguyên thủy, tín dụng (credit) là sự tin tưởng, tín nhiệm mà cho vay mượn các loại vật tư, hàng hóa, tiền tệ. Như vậy, tín dụng không chỉ là sự vay mượn thông thường mà là sự vay mượn với một mức tín nhiệm nhất định; Tức là khi thực hiện quyền cho vay, người cho vay tin vào khả năng trả nợ của người đi vay. Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, trước hết là dựa trên cơ sở niềm tin.
Tín dụng (credit) là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình cho vay, nhất là các khoản vay ngắn hạn. Cấp tín dụng có nghĩa là tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các khoản chi tiêu của người khác để đổi lấy một số tiền sẽ được hoàn trả trong tương lai. Việc cho vay hay “tài trợ” được coi là gián tiếp khi nhà sản xuất hoặc nhà buôn cung cấp hàng hóa “dưới hình thức tín dụng” tức mua chịu, không phải trả tiền ngay). Việc một người “có một khoản tín dụng” đồng nghĩa việc anh ta có một phương tiện để mua hàng hóa mà không phải trả tiền ngay, hoặc có thể rút tiền từ một tổ chức cho vay nào đó.
Trong môn kinh tế tiền tệ, khái niệm “tín dụng” thường được dùng để chỉ các loại hình cho vay có hiệu ứng tiền tệ, tức làm tăng cung ứng tiền tệ (khi sự gia tăng mức cho vay của ngân hàng dẫn tới sự gia tăng của tiền gửi ngân hàng), hoặc làm tăng các phương tiện thay thế tiền, chẳng hạn tín dụng thương mại. Mối quan hệ giữa tiền và tín dụng này là mối liên hệ trực tiếp ở cấp kinh tế vĩ mô, khi người ta phân tích sự thay đổi của cung ứng tiền tệ trên phương diện mở rộng tín dụng trong nước [16]. Bản chất, chức năng tín dụng * Bản chất của tín dụng Tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình vận động của vốn tín dụng có thể khái quát qua ba giai đoạn sau: [16] + Giai đoạn phân phối vốn tín dụng: giai đoạn này còn gọi là giai đoạn cho vay, ở giai đoạn này vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ chủ thể đi vay sang chủ thể cho vay.
Như vậy, khi cho vay giá trị vốn tín dụng được chuyển sang chủ thể sử dụng vốn, đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hóa thông thường. + Giai đoạn sử dụng vốn tín dụng: ở giai đoạn này vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được vận động trong chính tay người đi vay. Ngoài ra, ở giai đoạn này vốn vay được sử dụng trực tiếp nếu vay bằng hàng hóa; hoặc vốn vay được sử dụng để mua bằng hàng hóa nếu vay bằng tiền để thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh dịch vụ hoặc tiêu dùng của người đi vay. + Giai đoạn hoàn trả vốn tín dụng: đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của vốn tín dụng.