chương 1 và 2 sẽ đề xuất những kiến nghị giúp cho chi nhánh khắc phục hạn chế còn tồn tại về giảm thiểu rủi ro tín dụng, đa dạng về sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng TDKHCN tại chi nhánh; đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển đa dạng về hoạt động tín dụng KHCN cho VPBank – Chi nhánh Quận 3. Một số vấn đề về tín dụng khách hàng cá nhân h1. Khái niệm tín dụng • Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một trong những hoạt động quan trọng mang đến nguồn thu cho ngân hàng, đồng thời gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế. Sự xuất hiện những nhóm người có nguồn vốn nhàn rỗi, chưa cần sử dụng đến nguồn vốn đó; song sẽ có những người thiếu vốn và cần nguồn vốn vay để phục vụ cho nhu cầu cá nhân của họ.
Điều này tạo nên một mối quan hệ kinh tế, bản chất là sự chuyển đổi nguồn vốn từ nơi đang thừa vốn tạm thời sang nơi thiếu hụt nguồn vốn; sự chuyển đổi này cũng chính là định nghĩa cho hoạt động tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, có rất nhiều cách tiếp cận về khái niệm tín dụng khác nhau như: Theo Nguyễn Văn Tiến (2017), “tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa các bên về việc vay mượn một tài sản, gồm tài sản thực, tài sản tài chính hay uy tín; là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tài sản từ người sở hữu tài sản đó sang người cần tài sản với một khoảng thời gian cụ thể dựa trên cơ sở lòng tin của người sử dụng nhằm đảm bảo khả năng hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Sự chuyển nhượng một lượng tài sản đó bao gồm 3 đặc điểm chính: tạm thời (tính thời hạn), tính hoàn trả tài sản có giá trị cao hơn so với ban đầu và sự tin tưởng đối với người sử dụng có khả năng thanh toán đúng hạn”. Trong ngành ngân hàng, tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (cá nhân hoặc chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
(Bùi Diệu Anh, 2009) Ngoài ra, khái niệm tín dụng được cho biết rằng thể hiện quan hệ tín dụng phát sinh giữa ngân hàng với khách hàng, trong đó ngân hàng là người cấp tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản trong một khoảng thời gian đã thoả 12 thuận với cam kết là khách hàng phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn. (Trầm Thị Xuân Hương, 2012) • Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Từ khái niệm về “tín dụng ngân hàng” như đã nêu trên, cho chúng ta biết: “Tín dụng khách hàng cá nhân” là hình thức tín dụng mà ngân hàng tài trợ vốn dành cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày, mục đích cá nhân như cư trú, sửa chữa, mua nhà, ô tô…với thời gian cụ thể trên cơ sở trả cả gốc và lãi theo thoả thuận. Theo Nguyễn Văn Tiến (2014), thông qua các chủ thể là người đi vay mà tín dụng ngân hàng được chia thành tín dụng dành cho doanh nghiệp (tín dụng bán buôn), tín dụng cá nhân, hộ gia đình và tín dụng cho các tổ chức tài chính. Trong đó, tín dụng cá nhân, hộ gia đình được xem là hình thức tín dụng phục vụ cho các hoạt động mua sắm, tiêu dùng cũng như hỗ trợ sản xuất kinh doanh hộ gia đình của các cá nhân.
Chủ thể tín dụng khách hàng cá nhân là Ngân hàng(cho vay), khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình. Khách hàng cá nhân tại NHTM là một hoặc một nhóm người có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ, được các NHTM áp dụng phương thức cho vay theo quy trình thủ tục của cho vay khách hàng cá nhân phục vụ cho mục đích cá nhân hoặc gia đình của họ. Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng khách hàng cá nhân đang được nước ta không ngừng nâng cao hoạt động giúp tăng trưởng nền kinh tế. Đặc biệt đây là một hoạt động chủ chốt, đem lại nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng.
TNKHCD bao gồm đầy đủ các đặc điểm của một hoạt động tín dụng, theo Nguyễn Văn Tiến (2017) tín dụng mang những đặc điểm cụ thể sau: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Theo như tác giả ngân hàng cấp tín dụng khi có sự tin tưởng đối với khách hàng trong việc sử dụng nguồn vốn 13 hiệu quả đúng với mục đích sử dụng của họ, đồng thời có khả năng hoàn trả đầy đủ khoản nợ vay (bao gồm cả gốc, lãi) đúng hạn như đã thoả thuận. Đối với người sử dụng vốn cũng phải tin tưởng vào nguồn tài chính cá nhân của mình, đảm bảo được khả năng kiếm được nguồn thu nhập trong tương lai để thanh toán nợ gốc và lãi vay. Thứ hai, tín dụng có tính thời hạn hay có tính hoàn trả.
Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, vì vậy mọi khoản tín dụng của ngân hàng luôn có những kỳ hạn, bảo đảm rằng ngân hàng thu hồi nợ nhanh. Thời hạn tín dụng được xác định vào thời gian luân chuyển vốn của ngân hàng và khả năng tài chính của đối tượng vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, đồng nghĩa với việc ngân hàng có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; trái lại nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà tăng hình thức cho vay dài hạn sẽ ảnh hưởng đến thanh khoản. Đồng thời, thời hạn vay phải gắn liền với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay nhằm tạo điều kiện họ có khả năng trả nợ đúng hạn theo quy định.
Đối với việc hoàn trả nợ vay, điều này thể hiện việc chấm dứt một vòng tuần hoàn của tín dụng. Thứ ba, tín dụng phải trên cơ sở hoàn trả cả gốc lẫn cả lãi. Trong đó, giá trị hoàn trả phải đảm bảo cao hơn so với giá trị ban đầu (giá trị gốc), tức là bên cạnh việc trả số tiền gốc, người đi vay phải hoàn trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây được coi là giá trị của việc hoàn trả vốn vay. Khoản lãi phải bù đắp đủ chi phí hoạt động và tạo ra doanh thu, đây cũng chính hình thức hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Thứ tư, hoạt động tín dụng mang lại rủi ro cao cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ khả năng trả nợ của khách hàng hoặc những thiện chí về trả nợ không được hình thành đầy đủ. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc vào cá nhân của mỗi khách hàng, đồng thời còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng như sự thay đổi về thị trường, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai…vì vậy, rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng là khá cao, khi khách hàng gặp vấn đề khó khăn trong môi trường hoạt động thay đổi, dẫn đến việc trả nợ không đúng hạn hoặc không có khả năng trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. 14 Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Quá trình cho vay và duyệt hồ sơ vay diễn ra trên cơ sở những văn bản pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, giấy biên nhận nợ, hợp đồng bảo lãnh., trong đó bên đi vay (và bên bảo lãnh nếu có) phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Ngoài ra, tín dụng KHCN ít nhạy cảm với lãi suất. Hầu hết, KH vay vốn thường quan tâm đến khoản tiền phải trả, chi phí phả trả cho các khoản vay. Bởi TDKHCN chủ yếu là những khoản vay nhỏ nên mức lãi suất mà KH phải trả định kỳ hàng tháng không lớn phù hợp với mức lãi suất trên khoản vay của KH.
Khác với cho vay DN, KH vay cá nhân quan tâm đến giá trị mà TDCN mang lại phục vụ cho mụ đích sử dụng của họ hơn là quan tâm tới lãi suất vay. Vì vậy, lãi suất TDKHCN thường được các NH ấn định một mức lãi suất cụ thể cho KH 1. Vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân Ngân hàng chính là công cụ cung cấp tài chính quan trọng cho mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của nước nhà, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế. Để duy trì và đẩy mạnh sự phát triển của ngân hàng, tín dụng cá nhân chính là một trong những hoạt động rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng, nó được xem là công cụ mang đến nguồn thu nhập hữu ích cho các ngân hàng.
Thông qua Lê Trần Bảo Linh (2017), tác giả đã cho thấy rằng tín dụng KHCN có những vai trò quan trọng như: Đối với nền kinh tế TDKHCN có vai trò vô cùng to lớn đối với sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế - xã hội. Theo tác giả, thông qua hoạt động tín dụng KHCN, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được tiếp cận với các hình thức tín dụng một cách hiệu quả và nhanh chóng, giúp thúc đẩy sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tạo một lượng lớn công ăn việc làm cho họ, qua đó góp phần nâng cao vai trò của các chủ thể này trong nền kinh tế, đồng thời đóng góp vào gia tăng của GDP Với tốc độ phát triển của kinh tế thị trường, kéo theo nhu cầu sử dụng nguồn vốn vay của nhóm khách hàng cá nhân và hộ gia đình ngày càng lớn, tín dụng KHCN 15 phát triển đã cung cấp nguồn vốn giúp nhóm khách hàng này đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong đời sống từ việc chi trả cho các hàng hóa và dịch vụ hằng ngày đến có giá trị cao như nhà ở, phương tiện đi lại, du học…thông qua đó, sẽ góp phần thúc đẩy tiêu thụ các sản phẩm tiêu dùng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư gia tăng sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế. Đối với ngân hàng thương mại Sự phát triển của TDKHCN là xu thế tất yếu của các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, giúp cho các ngân hàng đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, hình thức tín dụng, mở rộng thêm phân khúc khách hàng mục tiêu, phân tán rủi ro và cung cấp dịch vụ tín dụng chất lượng cao cho các khách hàng.