CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Khái quát về Ngân hàng Chính sách xã hội 1.Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Lịch sử hình thành Ngân hàng Chính sách xã hội Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 10/06/1993 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế- xã hội nông thôn, Đảng ta chủ trương có chế độ tín dụng chính sách đối với hộ nghèo, hộ chính sách khác, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng căn cứ cách mạng; mở rộng hình thức cho vay thông qua tín chấp đối với các hộ nghèo. Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng và Chiến lược quốc gia về xoá đói giảm nghèo, năm 1993, Chính phủ đã thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo với số vốn ban đầu là 400 tỷ đồng, do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT), Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đóng góp.
Quỹ được sử dụng cho vay hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi, mức cho vay 500.000 đồng/hộ, người vay không phải bảo đảm tiền vay. Song do thực tế nguồn vốn vay của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo quá nhỏ, 400 tỷ đồng, số hộ nghèo cần vay vốn lại quá lớn, khoảng 4 triệu hộ, nên đã xảy ra tình trạng cho vay chia đều, trải mỏng, hiệu quả của chương trình vì thế chưa được thể hiện rõ rệt. Trước những thay đổi theo quá trình phát triển kinh tế- xã hội và để khắc phục những hạn chế của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, xuất phát từ quan điểm mới của Đảng và Nhà nước đối với chính sách xoá đói giảm nghèo là cần tăng cường nguồn lực, tập trung huy động các nguồn vốn lớn để phục vụ Chương trình mục tiêu quốc gia Xoá đói giảm nghèo, ngày 31/08/1995, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg cho phép thành lập Ngân hàng Phục vụ Người nghèo (NHNg), đặt trong NHNo&PTNT, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất. Qua 7 năm hoạt động (1995-2002), tổng nguồn vốn của NHNg đạt 7.
Nguồn vốn này được tăng trưởng trên cơ sở bàn giao từ Quỹ cho vay ưu đãi 6 hộ nghèo là 518 tỷ đồng, đã góp phần giúp cho trên 644.000 hộ thoát nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, ổn định xã hội, tạo tiền đề thuận lợi để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Con số đó không chỉ phản ánh hoạt động hiệu quả của NHNg mà còn khẳng định vai trò và sự cần thiết của một kênh tín dụng chính sách riêng biệt hỗ trợ tài chính cho hộ nghèo. Ưu điểm lớn nhất của mô hình NHNg là tiết kiệm chi phí quản lý, không phải tuyển dụng, đào tạo cán bộ và xây dựng cơ sở vật chất từ Trung ương đến cấp huyện mà sử dụng toàn bộ trụ sở, phương tiện, con người có sẵn của NHNo&PTNT để tác nghiệp. Tuy nhiên, mô hình của NHNg gặp nhiều vướng mắc, từ bộ phận quản trị đến bộ phận điều hành của NHNg đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên rất ít thời gian để nghiên cứu những vấn đề thực tiễn, hạn chế công việc nghiên cứu đề xuất chính sách, cơ chế quản lý điều hành; cán bộ NHTM tập trung vào kinh doanh, chưa quan tâm đúng mức đến tín dụng chính sách; thực chất vẫn hoạt động như một Quỹ ưu đãi, chưa phải hoạt động của một tổ chức tín dụng, chưa có cơ sở cho sự phát triển bền vững.
Thêm một lần quan trọng nữa, trước yêu cầu của tiến trình hội nhập, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, tách tín dụng chính sách ra khỏi hoạt động tín dụng thông thường của các NHTM, ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác và Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội. Theo đó, NHCSXH được sử dụng nguồn tài chính do Nhà nước huy động cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, ổn định xã hội. Ngày 11/03/2003, NHCSXH chính thức khai trương và đi vào hoạt động. Quá trình phát triển Ngân hàng Chính sách Xã hội Ngay từ những ngày đầu thành lập, được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành ở Trung ương, cấp uỷ, chính quyền địa phương, sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị nhận dịch vụ uỷ thác cùng với tinh thần nỗ lực vươn lên của thế hệ cán bộ NHCSXH đầu tiên nên nhiều công việc như thiết lập hệ thống quy chế điều hành, quy trình nghiệp vụ tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ, đồng bộ, đảm bảo cho việc triển khai các hoạt động tín dụng chính sách của Nhà nước được 7 thông suốt, không bị gián đoạn cùng với sự hoàn thành việc nhận bàn giao tài sản, các chương trình cho vay hộ nghèo từ NHNo&PTNT, cho vay Giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước, cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn từ Ngân hàng Công thương Việt Nam và các nguồn vốn ngân sách địa phương, với tổng số tiền gần 10.
Trải qua hơn 13 năm hình thành và phát triển, NHCSXH không những tiếp nhận và duy trì tốt các chương trình tín dụng chính sách bàn giao, mà còn triển khai thành công các chương trình tín dụng chính sách khác, nhờ đó, NHCSXH đã được Chính phủ, chính quyền các địa phương cũng như các tổ chức trong và ngoài nước tin tưởng, uỷ thác thêm nhiều nguồn vốn để triển khai thêm nhiều chương trình tín dụng chính sách. Tính đến ngày 31/12/2015, Tổng nguồn vốn của NHCSXH đạt 147.131 tỷ đồng, trong đó, nguồn vốn nhận uỷ thác từ Ngân sách địa phương đạt 4. NHCSXH đã thực hiện 22 chương trình tín dụng chính sách, qua đó, đã có trên 25 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn; giúp cho trên 3,6 triệu lượt hộ nghèo vượt qua ngưỡng nghèo; thu hút tạo việc làm cho trên 11,8 triệu lao động; giúp cho trên 3,3 triệu lượt HSSV có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn; xây dựng trên 6,6 triệu công trình NS&VSMTNT, 700 nghìn căn nhà phòng, tránh bão lụt cho hộ nghèo các tỉnh miền trung, 484 nghìn căn nhà cho người nghèo và trên 102 nghìn căn nhà vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long. Song song với thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, NHCSXH đã xây dựng được mô hình tổ chức, quản lý đặc thù, phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta.
Đó là mạng lưới hoạt động rộng khắp, được xây dựng từ Trung ương đến địa phương với 63 Chi nhánh cấp tỉnh, 626 Phòng giao dịch cấp huyện và hơn 11.000 Điểm giao dịch tại xã. Có thể khẳng định, hiện nay, NHCSXH là tổ chức tín dụng duy nhất xây dựng được mạng lưới trải khắp trên toàn quốc, xuống tận các xã, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo, bà con dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách khác tiếp cận dễ dàng với nguồn vốn chính sách của Nhà nước. Cùng với đó, bộ máy điều hành tác nghiệp của NHCSXH ngày càng được củng cố, từ 498 cán bộ của NHNo&PTNT chuyển sang ngày đầu thành lập, đến nay, NHCSXH đã có trên 9000 cán bộ. Chính đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, tâm huyết với nghề đã góp công sức to lớn giúp NHCSXH thực hiện được 8 các yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, khẳng định được vị thế của nguồn tín dụng chính sách, góp phần vào mục tiêu xoá đói, giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội ở nước ta.Đặc điểm của Ngân hàng Chính sách xã hội 1.
Đặc điểm về nguồn vốn Cơ cấu nguồn vốn của NHCSXH bao gồm: (i) vốn do Ngân sách Nhà nước cấp; (ii) vốn huy động và vốn vay; (iii) vốn nhận tài trợ, uỷ thác. Vốn do NSNN cấp Vốn điều lệ Vốn điều lệ của NHCSXH do Ngân sách Nhà nước cấp khi thành lập và được bổ sung hàng năm tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng tín dụng được Thủ tướng giao. Vốn điều lệ được sử dụng chủ yếu vào mục đích sử dụng lâu dài như mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị cần thiết cho hoạt động của NHCSXH. Các quỹ dự trữ Các quỹ được hình thành trong quá trình hoạt động của NHCSXH bao gồm: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng rủi ro tín dụng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng viên chức quản lý.
Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của NHCSXH. Việc hình thành các quỹ này nhằm làm tăng vốn tự có của NHCSXH, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh cho NHCSXH. Vốn ngân sách nhà nước Bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương được trích một phần để cho vay xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và thực hiện chính sách xã hội khác theo quy định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Vốn huy động và vốn vay Nguyên tắc huy động vốn Hàng năm, Tổng Giám đốc NHCSXH căn cứ kế hoạch tín dụng, kế hoạch hoá các nguồn vốn huy động trình HĐQT của NHCSXH phê duyệt.
Việc huy động các nguồn vốn với lãi suất thị trường để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách phải đảm bảo nguyên tắc chỉ huy động khi đã sử dụng tối đa các nguồn vốn không phải trả lãi hoặc huy động với lãi suất thấp. Tiền gửi tiết kiệm của người nghèo và các đối tượng chính sách khác 9 Huy động TGTK của người nghèo và các đối tượng chính sách khác thông qua Tổ TK&VV là đặc thù riêng có của NHCSXH, được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện. Mục đích huy động tiền gửi tiết kiệm của người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm từng bước tạo cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác có ý thức dành tiền tiết kiệm để tạo vốn tự có, quen dần với hoạt động tài chính- ngân hàng, đồng thời tạo thêm nguồn vốn để mở rộng các chương trình TDCS. Mức tiền gửi tiết kiệm, thời gian gửi ở các Tổ TK&VV khác nhau, tuỳ theo quy ước ở các tổ.