CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay ở mỗi nước, tùy theo theo đặc điểm và mô hình phát triển kinh tế của nước mình mà đưa ra những định nghĩa và các tiêu chí khác nhau để xác định khái niệm DN nhỏ và vừa. Ví dụ: - Tại Hoa Kỳ, tiêu chí xác định các doanh nghiệp nhỏ và vừa dựa trên ngành nghề kinh doanh, cơ cấu sở hữu, doanh thu và số lượng nhân viên - Tại Ấn Độ, Chính phủ nước này xác định các doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ vừa vừa chỉ dựa trên tiêu chí quy mô đầu tư vào nhà máy, máy móc thiết bị của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, từ năm 1998 trở về trước chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định việc phân loại doanh nghiệp theo quy mô, mà chủ yếu là phân loại doanh nghiệp theo hai nhóm: doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Năm 1999, Luật Doanh nghiệp ra đời đã loại bỏ các rào cản, tạo sự thông thoáng cho môi trường kinh doanh, cùng với những chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho các doanh nghiệp của nhà nước, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có những bước phát triển mang tính đột phá. Để phù hợp với xu thế mới này, ngày 30/06/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, có hiệu lực từ ngày 20/08/2009. Theo Điều 3 Nghị định này: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như sau: 4 Bảng 1.
Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt nam Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động nguồn Số lao động Khu vực động vốn vốn 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 I. Nông, lâm 10 người trở đồng trở đến 200 đến 100 tỷ đến 300 nghiệp và thủy sản xuống xuống người đồng người 20 tỷ từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người trở đồng trở đến 200 đến 100 tỷ đến 300 xây dựng xuống xuống người đồng người 10 tỷ từ trên 10 từ trên 10 từ trên 50 III. Thương mại và 10 người trở đồng trở đến 50 đến 50 tỷ đến 100 dịch vụ xuống xuống người đồng người (Nguồn: Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) 1.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa là bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng các doanh nghiệp của một nền kinh tế, nhóm doanh nghiệp này có những đặc điểm cơ bản như: Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo số liệu được Ủy ban châu Âu (EC) công bố 8/2014, hơn 20 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa ở châu Âu chiếm 99% tổng số doanh nghiệp. Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Mỹ, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân. Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2012), Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng 51% tổng số lao 5 động xã hội.
Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động thương mại nói chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng. Thứ ba, doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau. Trong quá trình hội nhập, các tập đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các Chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các quốc gia này phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh.
Thứ tư, doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ thường tập trung vào các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, ngành sản xuất khai thác cần nhiều vốn. Ở Việt Nam, trong cơ cấu ngành nghề khoảng 43% doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 24% trong lĩnh vực thương mại và phân phối, số còn lại hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và liên quan đến nông nghiệp. Thứ năm, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong khả năng tiếp cận thông tin và đưa ra các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh còn rất yếu kém. Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp này còn thấp, có sự hạn chế về trình độ chuyên môn, công nghệ, tin học, ngoại ngữ cũng như mối quan hệ, giao tiếp trong xã hội.
Một phần là do đầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa theo kịp diễn biến của thị trường. Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và phán đoán cảm tính của người quản lý. Bên cạnh đó, do cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, nên ở hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có bộ phận thực hiện công tác marketing chuyên biệt. Điều đó khiến khả năng tiếp thị sản phẩm của các doanh nghiệp này không cao, ít người biết đến.
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nước đều chú ý hỗ trợ 6 các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm huy dộng tối đa các nguồn lực và hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là động lực và sức mạnh kinh tế cho sự phát triển của đất nước trong tương lai, là cội nguồn của sự đổi mới và phát triển các mối quan hệ kinh doanh. Vai trò to lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa được thể hiện ở các mặt sau: Thứ nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giảm thất nghiệp. Ở hầu hết các nước, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều chiếm một số lượng rất lớn, lại phân tán nhiều trên mọi lãnh thổ của quốc gia.
Chính vì vậy, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng gia tăng đã giải quyết một khối lượng lớn việc làm trong xã hội, đặc biệt là những người lao động thu nhập thấp, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần làm giảm tình trạng di dân vào các khu đô thị lớn, giảm thiểu thất nghiệp và các tệ nạn xã hội. Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa khai thác và phát huy tối đa nguồn lực xã hội, góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế: - Thu hút vốn đầu tư trong dân cư: Trong dân cư còn rất nhiều tiềm năng vẫn chưa được khai thác và sử dụng đúng mức như tiềm năng về tài chính, về nguồn lực lao động, kinh nghiệm, trí óc… Nếu như các doanh nghiệp lớn thường không có mặt ở những địa phương khó khăn thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp mọi nơi, điều đó giúp cho các doanh nghiệp này tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ trong dân cư. Để thành lập một doanh nghiệp nhỏ và vừa không cần lượng vốn đầu tư ban đầu quá lớn nên các tầng lớp dân cư có thể tham gia góp vốn để sản xuất kinh doanh, từ đó thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tận dụng nguồn lao động và nguyên liệu giá rẻ, làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm.
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Các doanh nghiệp nhỏ và vừa với những ưu thế như: không yêu cầu vốn đầu tư quá lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, giá lao động rẻ… đang dần trở thành mục tiêu cho các nhà đầu tư nước ngoài hướng tới. Đây cũng chính là cơ hội tốt để những người lãnh đạo các doanh nghiệp nhỏ và vừa học hỏi được kinh nghiệm quản lý và điều hành doanh nghiệp, người lao động được 7 nâng cao tay nghề, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm được cải tiến, từ đó tham gia vào quá trình xuất khẩu. Phần lớn các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế thường chỉ tập trung ở vùng đô thị, là nơi có cơ sở hạ tầng tốt, dân cứ đông và thị trường tiêu thụ rộng lớn. Trong đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở mọi vùng miền, mọi khu vực của đất nước, kể cả những vùng nông thôn hay những nơi kinh tế còn chưa phát triển.
Các doanh nghiệp này thường không yêu cầu trình độ người lao động cao nên đã thu hút được một lượng lớn lao động trong khu vực nông nghiệp, nhờ đó thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, làm cho các ngành công nghiệp, thương mại – dịch vụ phát triển và thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Thứ ba, doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân. Ở mỗi quốc gia, hầu hết các doanh nghiệp đều tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Do số lượng các doanh nghiệp này ngày càng đông và phân bố rộng khắp trong hầu hết các ngành, lĩnh vực nên đóng góp của các doanh nghiệp này vào tổng thu nhập quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn.