Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức, tri thức và công nghệ đã trở thành nguồn lực quyết định tốc độ tăng trưởng của mọi quốc gia. Theo các thống kê kinh tế quốc tế, giá trị do tri thức tạo ra tại các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã chiếm trên 50% tổng GDP từ đầu thế kỷ 21. Đối với các nền kinh tế đang phát triển tại châu Á, bao gồm Việt Nam, việc chuyển đổi mô hình từ thâm dụng lao động giá rẻ sang tăng trưởng dựa vào đổi mới sáng tạo là yêu cầu sống còn. Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2014 vẫn mang tính rời rạc, hiệu quả ứng dụng thấp, chưa tạo thành động lực cốt lõi cho nền kinh tế thị trường.

Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị "Phát triển hệ thống đổi mới quốc gia ở một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" của tác giả Hoàng Thị Thinh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phí Mạnh Hồng tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, giải quyết trực diện vấn đề cấp thiết này. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về Hệ thống đổi mới quốc gia (National Innovation System - NIS), phân tích kinh nghiệm phát triển NIS tại 3 nền kinh tế châu Á tiêu biểu là Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc trong giai đoạn 1990 - 2012, từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm định hình, vận hành NIS tại Việt Nam đến năm 2025.

Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản lý. Nghiên cứu chỉ ra rằng một hệ thống NIS vận hành hiệu quả có thể nâng tỷ lệ đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế lên trên 35%, đồng thời rút ngắn chu kỳ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học từ 5 - 7 năm xuống còn dưới 24 tháng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng kinh tế chính trị hiện đại về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật. Khung lý thuyết trọng tâm là học thuyết Hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) được khởi xướng và phát triển bởi các nhà kinh tế học hàng đầu như Chris Freeman (1987, 1995), Bengt-Åke Lundvall (1992), Richard Nelson (1993), Patel và Pavitt (1994), cùng các báo cáo chuyên đề của OECD (1997).

Trong khung phân tích này, 4 khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa:

  1. Công nghệ và cấu trúc 4 thành phần (T-H-I-O): Bao gồm Kỹ thuật (Technoware - T), Con người (Humanware - H), Thông tin (Inforware - I) và Tổ chức (Orgaware - O). Bất kỳ sự đổi mới nào ở phần vật chất (T) cũng đòi hỏi sự đồng bộ của kỹ năng con người (H), dữ liệu (I) và phương thức quản trị (O).
  2. Đổi mới công nghệ: Việc thay thế hoặc nâng cấp một phần cốt lõi hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ tiến tiến hơn, bao gồm đổi mới quy trình sản xuất và đổi mới sản phẩm đầu ra nhằm rút ngắn vòng đời công nghệ vốn hiện chỉ còn từ 12 đến 36 tháng.
  3. Hệ thống đổi mới quốc gia (NIS): Mạng lưới liên kết hữu cơ giữa các thể chế công và tư (Chính phủ, Viện nghiên cứu, Trường đại học, Doanh nghiệp và Tổ chức tài chính), trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ thể trung tâm của quá trình thương mại hóa tri thức.
  4. Kinh tế tri thức: Nền kinh tế mà quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức đóng vai trò động lực chính cho việc tạo ra của cải và việc làm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp phong phú từ các tổ chức quốc tế uy tín như OECD, Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), cùng các báo cáo thống kê chính thức của Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Thống kê Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2012.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu điển hình (case study) so sánh chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 3 quốc gia đại diện cho các cấp độ phát triển khác nhau tại châu Á: Nhật Bản (quốc gia công nghiệp hóa phát triển hàng đầu thế giới với NIS hoàn chỉnh), Hàn Quốc (quốc gia bứt phá thành công từ nước đang phát triển sang nhóm thu nhập cao nhờ mô hình NIS thế hệ thứ 3), và Trung Quốc (nền kinh tế chuyển đổi có quy mô khổng lồ với chiến lược NIS mang đặc trưng riêng).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh đối chiếu đa quốc gia kết hợp trừu tượng hóa khoa học là nhằm bóc tách những quy luật vận động mang tính phổ quát của mô hình NIS, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, từ đó xác định rõ mức độ tương thích thể chế khi vận dụng vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong mốc thời gian nghiên cứu 2002 - 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng đã làm sáng tỏ 3 phát hiện mang tính quy luật và thực trạng nổi bật:

Thứ nhất, cơ cấu nguồn lực tài chính cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ở các quốc gia thành công luôn do doanh nghiệp dẫn dắt. Tại Nhật Bản, khoảng 86% tổng chi tiêu R&D toàn quốc do khu vực doanh nghiệp tư nhân tự đầu tư, trong khi ngân sách nhà nước chỉ tài trợ khoảng 14%. Tại Hàn Quốc, tổng chi tiêu cho R&D liên tục duy trì ở mức cao từ 3.0% đến hơn 3.7% GDP trong suốt giai đoạn 2002 - 2010, với trên 75% kinh phí đến từ các tập đoàn công nghiệp lớn.

Thứ hai, tồn tại khoảng cách rất lớn về năng lực sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và các nước trong khu vực. Thống kê số lượng bằng độc quyền sáng chế đăng ký tại Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) giai đoạn 2006 - 2010 cho thấy Việt Nam chỉ đạt trung bình khoảng 2 đến 3 sáng chế mỗi năm, trong khi Singapore đạt trên 400 sáng chế mỗi năm, Malaysia đạt hơn 150 sáng chế mỗi năm, và Thái Lan đạt khoảng 25 đến 30 sáng chế mỗi năm. Điểm số Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu (GII) của Việt Nam thời điểm 2010 - 2012 cũng phản ánh sự tụt hậu về đầu ra tri thức so với tiềm năng nhân lực.

Thứ ba, cơ chế phân bổ nguồn lực KH&CN tại Việt Nam còn nhiều bất cập và thiếu kết nối. Dù ngân sách nhà nước dành khoảng 2% tổng chi ngân sách hàng năm cho KH&CN (tương đương khoảng 0.5% đến 0.6% GDP), hơn 70% nguồn kinh phí này lại được phân bổ cho các viện nghiên cứu và trường đại học công lập theo cơ chế hành chính bao cấp. Mối quan hệ liên kết thương mại giữa viện nghiên cứu với khối doanh nghiệp chỉ đạt dưới 15% mức kỳ vọng thực tế, khiến phần lớn kết quả đề tài nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức nghiệm thu lưu kho.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự kém hiệu quả của NIS tại Việt Nam là do cách tiếp cận truyền thống thiên về quản lý hành chính sự nghiệp thay vì tiếp cận hệ thống mạng lưới. Trong một biểu đồ cột so sánh tỷ trọng chi R&D trên GDP và số lượng sáng chế quốc tế giai đoạn 2002 - 2010 giữa 4 quốc gia (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam), dữ liệu sẽ phản ánh rõ nét mối tương quan thuận giữa mức độ xã hội hóa nguồn vốn đầu tư đổi mới với số lượng tài sản trí tuệ được thương mại hóa.

Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua các đạo luật chiến lược (như Luật Khoa học và Công nghệ Cơ bản năm 1995 của Nhật Bản, Tầm nhìn NIS 25 năm, và Kế hoạch phát triển KH&CN 5 năm lần thứ tư giai đoạn 2011 - 2015). Ngược lại, tại Việt Nam, doanh nghiệp chưa được đặt vào vị trí trung tâm của NIS. Các tổ chức tài chính trung gian, quỹ đầu tư mạo hiểm và các tổ chức định giá chuyển giao công nghệ gần như chưa phát triển, dẫn đến sự đứt gãy trong chuỗi biến đổi tri thức thành giá trị gia tăng kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm phát triển NIS tại Việt Nam:

  1. Tái cấu trúc mô hình quản trị NIS lấy doanh nghiệp làm trung tâm Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuyển dịch trọng tâm đầu tư công sang hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động R&D tại doanh nghiệp. Mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp tham gia đổi mới công nghệ từ mức ước tính dưới 20% lên 40% - 45% trong giai đoạn 2015 - 2025 thông qua các cơ chế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và hoàn thuế thiết bị đổi mới.

  2. Đổi mới cơ chế tài chính và phát triển thị trường vốn mạo hiểm Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước thiết lập khung pháp lý cho hoạt động của Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia và các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân. Phấn đấu thu hút nguồn vốn xã hội hóa cho R&D đạt tỷ lệ tối thiểu 60% tổng chi tiêu KH&CN toàn xã hội vào năm 2020, giảm dần sự phụ thuộc vào bầu sữa ngân sách nhà nước.

  3. Hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ và cơ chế tự chủ viện - trường Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Cục Sở hữu Trí tuệ ban hành chính sách phân chia lợi nhuận thương mại hóa sáng chế (tối thiểu 30% - 50% doanh thu bản quyền thuộc về tác giả nghiên cứu). Mục tiêu gia tăng số lượng đơn đăng ký sáng chế của các trường đại học thêm 15% - 20% mỗi năm trong khung thời gian 2016 - 2022.

  4. Xây dựng tổ chức trung gian và mạng lưới liên kết quốc tế Chính phủ phê duyệt đề án phát triển 5 đến 10 trung tâm ươm tạo công nghệ cao và sàn giao dịch công nghệ quốc gia giai đoạn 2015 - 2025. Thúc đẩy liên kết trực tiếp giữa các khu công nghệ cao (Hòa Lạc, TP.HCM, Đà Nẵng) với các tập đoàn đa quốc gia nhằm tiếp nhận chuyển giao công nghệ nguồn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Nhà hoạch định chính sách vĩ mô tại các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ KH&CN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương): Sử dụng dữ liệu và khung chính sách của luận văn để xây dựng các đề án chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 5 năm và 10 năm, tối ưu hóa các công cụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo.

  2. Lãnh đạo doanh nghiệp và giám đốc công nghệ (CTO/CEO): Tham khảo mô hình liên kết 4 thành phần công nghệ (T-H-I-O) để tái cấu trúc phòng R&D nội bộ, tận dụng các chính sách ưu đãi tài chính và chủ động đặt hàng nghiên cứu với các trường đại học.

  3. Ban giám hiệu các trường đại học và viện trưởng các viện nghiên cứu: Áp dụng bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản và Hàn Quốc để chuyển đổi sang mô hình đại học nghiên cứu tự chủ, thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ (Spin-off) trong khuôn viên viện - trường.

  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Kinh tế chính trị, Quản trị công nghệ, Quản lý kinh tế: Khai thác tài liệu như một nguồn tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận phân tích NIS so sánh và hệ thống thuật ngữ học thuật quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) khác gì so với hệ thống KH&CN truyền thống?

Hệ thống KH&CN truyền thống chủ yếu tập trung vào việc cấp vốn đầu vào cho các viện nghiên cứu công lập theo quy trình tuyến tính. Ngược lại, NIS là mô hình mạng lưới phi tuyến tính lấy doanh nghiệp làm trung tâm, gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu với thị trường, chú trọng dòng luân chuyển tri thức và đầu ra thương mại hóa sản phẩm.

Tại sao nghiên cứu lựa chọn kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc?

3 quốc gia này đại diện cho các mô hình thành công điển hình tại châu Á: Nhật Bản có hệ thống NIS hoàn chỉnh với hơn 80% vốn từ tư nhân; Hàn Quốc là hình mẫu chuyển đổi thần tốc lên NIS thế hệ thứ 3 với chi tiêu R&D trên 3.7% GDP; còn Trung Quốc là bài học chuyển đổi nền kinh tế quy mô lớn thích ứng với cơ chế thị trường.

Rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của NIS tại Việt Nam là gì?

Điểm nghẽn nghiêm trọng nhất là sự tách rời giữa khu vực nghiên cứu và khu vực sản xuất kinh doanh. Hơn 70% ngân sách KH&CN nằm ở khu vực công lập nhưng thiếu cơ chế thương mại hóa, trong khi các doanh nghiệp SME chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp lại thiếu vốn và năng lực tiếp cận công nghệ mới.

Mô hình 4 thành phần công nghệ T-H-I-O có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp?

Mô hình khẳng định công nghệ không chỉ là máy móc thiết bị (T) mà còn phụ thuộc vào con người (H), thông tin dữ liệu (I) và tổ chức quản lý (O). Nếu doanh nghiệp đầu tư mua dây chuyền hàng triệu USD nhưng không nâng cấp kỹ năng nhân lực và quy trình tổ chức thì hiệu suất khai thác thực tế chỉ đạt dưới 30% công suất thiết kế.

Nguồn lực tài chính nào đóng vai trò đòn bẩy cho NIS ở các nước đi sau?

Các quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ là đòn bẩy quyết định. Điển hình tại Nhật Bản, các định chế tài chính như Ngân hàng Shoko Chukin cung cấp các khoản vay dài hạn với lãi suất ưu đãi thấp hơn 2% - 3% so với thị trường để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới sáng tạo.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về NIS, làm rõ bản chất mạng lưới liên kết đa tác nhân lấy doanh nghiệp làm hạt nhân vận hành.
  • Phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, chứng minh quy luật chi tiêu R&D xã hội hóa trên 70% là điều kiện tiên quyết để bứt phá công nghệ.
  • Đánh giá thẳng thắn thực trạng NIS tại Việt Nam giai đoạn 2002 - 2012 với các điểm nghẽn về bằng sáng chế quốc tế (chỉ đạt khoảng 2-3 sáng chế/năm tại Mỹ) và tỷ lệ thương mại hóa thấp.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, tài chính, sở hữu trí tuệ và tổ chức trung gian với lộ trình thực thi rõ ràng cho giai đoạn 2015 - 2025.
  • Kêu gọi các nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và khối viện - trường tại Việt Nam cần nhanh chóng chuyển đổi tư duy quản lý, xem việc kiến tạo một hệ thống NIS hiện đại là nhiệm vụ trung tâm để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình và hội nhập kinh tế quốc tế thành công.