Chương 1: Xác định nội hàm của khái niệm văn chương Thiền phái Trúc Lâm. Chương 2: Sáng tác của Thiền phái Trúc Lâm nhìn từ góc độ chủ đề - đề tài. Chương 3: Hệ thống chủ đề - đề tài của văn chương Thiền phái Trúc Lâm trong hệ thống chủ đề - đề tài chung của văn học dân tộc cùng thời. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: XÁC ĐỊNH NỘI HÀM CỦA KHÁI NIỆM VĂN CHƢƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 1.
Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Đầu thế kỷ XIII, triều đình nhà Lý bắt đầu suy yếu. Các nhà vua khi lên ngôi còn quá non trẻ, lớn lên ham chơi, bỏ bê việc triều chính. Vua Cao Tông mải mê xây cung điện, nghe đàn hát. Vua Duệ Tông thì nhu nhược, lại mắc bệnh cuồng.
Trong triều các gian thần, nịnh thần lộng hành nhiễu loạn. Ngoài xã hội, nhiều năm mất mùa, đói kém triền miên. Nạn hỗn chiến giữa các phe phái phong kiến càng trở nên sâu sắc. Trong triều đình bấy giờ, họ Trần ngày càng chiếm ưu thế, anh em con cháu họ Trần lần lượt nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều.
Vốn sống bằng nghề đánh cá, họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển, đến đời Trần Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một cự tộc có thế lực vùng Hải Ấp nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạy lên Tuy Hoá, Thái tử Sảm chạy về Hải ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ. Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý. Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bình Di), đưa vua Lý trở lại kinh đô.
Cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi Hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm 1211, tức là vua Lý Huệ Tông. Ông cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi. Lúc này, Tô Trung Từ được phong là Thái úy phụ chính. Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mông, người chức cao, quyền lớn nhưng "không có học thức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán chính sự ngày 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở Hồng Châu thả sức cướp bóc, khiến triều đình không chế ngự nổi. Năm 1216 , trước tình thế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ Tông đã bí mật rời bỏ hoàng cung, cùng với Trần Thị Dung trốn đến nơi đóng quân của Trần Tự Khánh. Từ đó, vua Lý hoàn toàn phụ thuộc vào thế lực anh em họ Trần. Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều uỷ quyền cho Trần Thủ Độ (em họ Trần Thừa và Tự Khánh) khi ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân.
Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi cắt tóc đi tu ở chùa Chân Giáo. Liền sau đó, Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 6 tuổi. Một năm sau, vào tháng 12 âm lịch năm 1225, Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị. Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) còn nhỏ, mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là Nhiếp chính Trần Thừa.
Nhà Trần trải qua 13 đời vua bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly - tổng cộng là 175 năm. Những vị vua và tôn thất nhà Trần mến mộ Phật giáo, nghiên cứu tu tập và có sự chứng đắc, điển hình là vua Trần Nhân Tông, sau hai lần đánh thắng quân Nguyên - Mông (1285 và 1287) đã nhường ngôi lại cho Trần Anh Tông, về làm Thái thượng hoàng và tu hành trên núi Yên Tử rồi sáng lập thiền phái Trúc Lâm. Tác giả văn học trong Thiên phái Trúc Lâm Đối với thiền phái Trúc Lâm thì Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông là đệ nhất Tổ, nhưng tính theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử phải kể từ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thiền Sư Hiện Quang là Tổ ban đầu. Sư là người khai sơn chùa Vân Yên (chùa Hoa Yên ngày nay).
Vốn là đệ tử của Thiền Sư Thường Chiếu, dòng Vô Ngôn thông, nhưng tỏ ngộ nơi Thiền Sư Trí Thông chùa Thánh Quả. Thiền sư Viên Chứng, cũng gọi là Quốc Trúc Lâm, người đã từng đón tiếp vua Trần Thái Tông tìm lên Yên Tử năm 1236. Quốc sư Đại Đăng, người đã tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ Thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa tại kinh đô Thăng Long và là thầy của vua Trần Thánh Tông. Thiền sư Tiêu Dao, là Thầy của Thượng Sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là Đại sư Phúc Đường, vì sư ở Tinh xá Phúc Đường mà Thượng Sĩ Tuệ Trung có bài thơ tựa "Thượng Phúc Đường Tiêu Dao Thiền sư".
Thiền sư Huệ Tuệ, theo Việt Nam Phật giáo Sử luận của nguyễn Lang cho là sư vốn làm Thầy Hoà Thượng truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia. Trúc Lâm Đại Đầu Đà Trần Nhân Tông, theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử, ngài thuộc hàng thứ sáu, nhưng là người khai sáng ra dòng Thiền Trúc Lâm của Đại Việt nên là Sơ Tổ. Theo sách Đại Nam Thiền Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục của Hòa thượng Phúc Điền hệ thống truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được tiếp nối qua các vị sau: Tổ sư Pháp Loa,Tổ sư Huyền Quang, Quốc sư An Tâm, Quốc sư Phù Vân Tĩnh Lự, Quốc sư Vô Trước, Quốc sư Quốc Nhất, Tổ sư Viên, Tổ sư Đạo Huệ, Tổ sư Viên Ngộ, Quốc sư Tổng Trì, Quốc sư Khuê Thám, Quốc sư Sơn Đằng, Đại sư Hương Sơn, Quốc sư Trí Dung, Tổ sư Tuệ Quang, Tổ sư Chân Trú, Đại sư Vô Phiền. Mặc dù tác giả trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm thì có nhiều nhưng với nội dung của đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu các tác phẩm văn chương của năm Thiền sư thuộc Thiền phái Trúc Lâm đời Trần như sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trần Thái Tông (1218 – 1277).
- Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291). - Trần Nhân Tông Đại Sĩ (1258 – 1308) – Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử. - Pháp Loa (1248 – 1330) - Nhị Tổ Trúc Lâm Yên Tử. - Huyền Quang (1254 – 1334) - Tam Tổ Trúc Lâm yên Tử.
Thiền phái Trúc Lâm được một vị vua nhà Trần sáng lập, được xem là dạng Phật giáo chính thức của Đại Việt thời đó nên có liên quan mật thiết đến triều đại nhà Trần, phải chịu một hoàn cảnh mai một sau khi triều đại này suy tàn. Vì vậy, sau ba vị Tổ là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông sơ tổ Trúc Lâm truyền thừa cho Pháp Loa là đệ nhị Tổ, đến Huyền Quang đệ tam Tổ, sau đó hệ thống truyền thừa của phái này không còn rõ ràng như trước nữa. Tiểu kết chƣơng 1 Trên đây, chúng tôi đã trình bày về sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và sự truyền thừa của các tác giả văn chương Thiền sư trong Thiền phái này rất hùng hậu, để thấy văn chương đời Trần được hình thành và phát triển là nhờ lực lượng sáng tác của những Thiền sư với thể loại phong phú, nội dung xúc tích, đa dạng, đa sắc thái, thể hiện rõ bản sắc dân tộc đậm tính nhân văn và giàu lòng yêu nước. Thời kỳ này, có những minh quân sau khi bỏ áo hoàng bào khoác áo nâu sòng đã hoàn thành rất tốt vai trò Thiền sư vừa tu tập giải thoát vừa có tinh thần yêu nước thương dân.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: SÁNG TÁC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI 2. Khái niệm chủ đề - đề tài Về khái niệm chủ đề - đề tài thì có rất nhiều sách đề cập tới, nhưng ở đây với nội dung của đề tài luận văn nên người viết chỉ nêu khái niệm chủ đề - đề tài thuộc Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi ( chủ biên). Theo sách này thì “khái niệm đề tài giúp ta xác định tác phẩm viết về cái gì, còn khái niệm chủ đề lại giải đáp câu hỏi vấn đề cơ bản của tác phẩm là gì” và lấy đó làm cương yếu cho bài nghiên cứu của mình. Thời Trần xã hội thịnh trị nên hệ thống chủ đề - đề tài chung trong văn chương của các Thiền sư lúc bấy giờ là đều thấy tính chất vô thường, giả tạo của vạn vật vũ trụ này và muốn nhân sinh tu hành đạt tới cực lạc giải thoát.
Hệ thống chủ đề - đề tài qua sáng tác của một số tác giả trong Thiền phái Trúc Lâm 2. Trần Thái Tông Trần Thái Tông (1218 - 1277), vị vua đầu tiên của nhà Trần đã từng trực tiếp xông pha trận mạc. Sau chiến thắng đã nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông để làm thơ và nghiên cứu Phật giáo rồi viết ra Thái hư lục và Thiền tông chỉ nam. Qua thơ văn ông, người đời sau thấy được một vị vua khoan hậu, tuy chưa hề xuất gia nhưng vẫn tha thiết với Phật pháp và mơ ước một cuộc sống thanh tịnh, an nhiên, coi thường quyền lực và phú quí.
Theo tài liệu ghi chép lại thì Thái Tông sáng tác được tác phẩm. Tác phẩm đầu, như ta đã biết là Thiền tông chỉ nam. Sáng tác rất sớm trong cuộc đời của ngài, khi ngài mới khoảng 31, 32 tuổi, và được Quốc sư khen là trái tim của Bụt nằm trong đó. Tác phẩm thứ hai là Kim cương tam muội kinh chú giải.
Vua đã chú giải Kinh Kim cương tam muội và chúng ta còn bài tựa của tác phẩm này. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác phẩm thứ ba là Lục thời sám hối khoa nghi mà chúng ta đã nói qua ở trên đây. Tác phẩm thứ tư là Bình đẳng lễ sám văn. Một tác phẩm sám hối khác.