CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ HÀNG KHÔNG 1. Khái niệm và đặc điểm của tập đoàn kinh tế hàng không 1. Lịch sử hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế Từ giữa thế kỷ 19, nền kinh tế thế giới đã đạt mức độ tương đối phát triển, đặc biệt ở các nước tư bản hàng đầu. Cùng với sự phát triển hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng giúp cho hệ thống phân phối ra đời hàng loạt.
Trước sự phát triển của thương mại, bản thân các doanh nghiệp sản xuất cũng phải phát triển để đáp ứng. Các doanh nghiệp sản xuất phải đổi mới, phát triển để có thể vừa sản xuất hàng loạt sản phẩm, vừa giảm giá thành trên cơ sở kết hợp với các doanh nghiệp sản xuất khác cùng ngành bằng cách thôn tính hay sáp nhập để tích tụ và cạnh tranh. Đây là bước đi ban đầu trên con đường hình thành tập đoàn kinh tế của các công ty sản xuất. Khi đã tiến hành sản xuất hàng loạt, để ổn định và mở rộng thị trường các công ty sản xuất đã chú trọng và hình thành hệ thống phân phối mới.
Mặt khác, để giảm chi phí và ổn định đầu vào, các công ty sản xuất tổ chức các bộ phận cung tiêu dưới dạng chi nhánh hay công ty con. Từ đó, các công ty sản xuất tập trung hàng dọc ra đời. Việc quản lý theo chuỗi kinh tế được hình thành. Ở đây, mỗi doanh nghiệp chỉ là một mắt xích trong toàn bộ hệ thống từ khâu cung cấp đầu vào, tiến hành sản xuất đến khâu tiêu thụ đầu ra nhằm đảm bảo sao cho chi phí giao dịch nội bộ là tối thiểu.
Đây là bước thứ hai trên con đường hình thành tập đoàn kinh tế. Mục đích của các công ty sản xuất là tập trung hàng dọc nhằm tăng lợi nhuận bằng cách tăng sản lượng và giảm chi phí. Cách quản lý của nó là sự phối hợp hành chính giữa các đơn vị hoạt động khác nhau trong dây chuyền của một tổ chức kinh tế lớn. Đối với một số ngành, lĩnh vực, một số công ty sản xuất không phát triển thành các công ty hàng dọc được, để duy trì lợi nhuận, chúng tìm cách kiểm soát giá cả và sản lượng của các đơn vị khác cùng ngành.
Điều này dẫn đến các công ty sản xuất tập trung hàng ngang ra đời. Giai đoạn đầu, các công ty sản xuất cùng ngành lập thành các hội buôn (Cartel), tiếp đó là Syndicate. Đây là các tập đoàn độc quyền và là dạng cổ điển nhất của tập đoàn kinh tế. Cartel là hình thức độc quyền trong đó các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá cùng ký hiệp định phân chia thị trường tiêu thụ, quy định giá cả hàng hoá, quy mô sản lượng, kỳ hạn thanh toán, thống nhất về chuẩn mực, mẫu mã, kiểu loại.
Còn Syndicate thực chất là một dạng đặc biệt của Cartel, có một văn phòng thương mại chung được thành lập do một Ban quản trị chung điều hành và 9 123doc 10 tất cả các công ty phải tiêu thụ hàng hoá thông qua kênh của văn phòng này, nhưng sản xuất vẫn là công việc độc lập của mỗi thành viên. Tuy nhiên, vì một số tương quan lực lượng thay đổi, mỗi thành viên thường chạy theo lợi ích cục bộ dẫn đến vi phạm những cam kết nên Cartel và Syndicate dễ bị phá vỡ, hoạt động không hữu hiệu. Để cải tiến, các thành viên thành lập tổ hợp (Trust). Đây là liên hiệp các doanh nghiệp do nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng hoá cùng loại hoặc có quan hệ chặt chẽ với nhau trong sản xuất lập ra nhằm độc quyền tiêu thụ sản phẩm và thu lợi cao.
Các doanh nghiệp bị mất quyền độc lập về sản xuất thương mại, các nhà tư bản trở thành cổ đông. Tiếp đó, xuất hiện sự liên kết dọc, nghĩa là liên kết cả những Trust, Syndicate, xí nghiệp… thuộc những ngành khác nhau nhưng có liên quan về kinh tế và kỹ thuật, hình thành nên các Consortium. Đây là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân hàng nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong và ngoài nước hoặc tiến hành công việc buôn bán nào đó. Đứng đầu Consortium thường là ngân hàng lớn có vai trò điều hành hoạt động của tổ chức này.
Tuy nhiên do Trust và Consortium tạo nên sự độc quyền tiêu thụ và vì thế bị phản đối. Chính phủ các nước có tập đoàn kinh tế loại này đã lần lượt ban hành luật chống độc quyền nhằm nghiêm cấm việc khống chế giá cả và phân chia thị trường tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, các công ty thành lập các Concern. Đây là hình thức phổ biến hiện nay với mô hình công ty mẹ đầu tư vào các công ty khác thành công ty con, nhằm tạo thế lực tài chính mạnh để kinh doanh.
Concern đầu tư vào nhiều lĩnh vực sản phẩm để hạn chế rủi ro, đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, phương thức quản lý hiện đại. Tiếp đó các Conglomerate được hình thành và phát triển. Đây là những tập đoàn đa ngành, các công ty thành viên có ít mối quan hệ hoặc không có mối quan hệ về công nghệ nhưng có quan hệ chặt chẽ về tài chính. Tập đoàn này thực chất là một tổ chức tài chính đầu tư vào các công ty kinh doanh tạo ra một chùm doanh nghiệp tài chính - công nghiệp để hỗ trợ vốn đầu tư cho các công ty thành viên có hiệu quả cao.
Nói chung, qua quá trình phát triển các tập đoàn kinh tế ngày càng có quy mô lớn hơn, có thực lực hùng hậu hơn, được tổ chức ra thông qua việc thôn tính, sáp nhập, thông qua sự liên kết giữa nhiều doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, hoặc thành các tập đoàn tài chính. Thực chất đó là việc sử dụng các yếu tố sản xuất một cách có hiệu quả trong phạm vi lớn hơn, tổ chức tài sản một cách tốt hơn. Hơn nữa, việc nghiên cứu, triển khai các công nghệ mới ngày càng quá tốn kém đã buộc các công ty phải liên kết chặt chẽ với nhau. Đây cũng là hệ quả tất yếu của nền kinh tế toàn cầu hóa và đa dạng hoá.
10 123doc 11 Ngành hàng không trên thế giới được biết đến từ đầu thế kỷ 20, khi anh em nhà Wright đã bay thành công trên một chiếc máy bay tự thiết kế chế tạo có gắn động cơ vào ngày 17 tháng 12 năm 1903. Tuy nhiên những năm sau đó là quá trình nghiên cứu thử nghiệm và phục vụ cho mục đích quân sự trong 2 cuộc chiến tranh thế giới. HKDD trên thế giới chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ kể từ sau thế chiến thứ 2 khi hàng nghìn phi công được giải ngũ và nhiều máy bay vận tải, huấn luyện của quân đội dư thừa chuyển sang mục đích dân dụng. Đến những năm của thập kỷ 50- 60, với sự phát triển của công nghệ HKDD, đặc biệt là sự ra đời Boeing 707 - máy bay phản lực chở khách đã thúc đẩy HKDD nói chung và vận tải hàng không phát triển nhanh chóng.
Sự phát triển về quy mô và môi trường cạnh tranh hình thành liên kết theo hàng dọc ở các hãng hàng không lớn dưới dạng các bộ phận, chi nhánh hay công ty con trong dây chuyền vận tải hàng không và liên kết theo hàng ngang giữa các hãng hàng không với nhau cũng như với các doanh nghiệp khác. Từ đó hình thành các tập đoàn kinh tế hàng không, có một hãng hàng không lớn đóng vai trò làm bộ mặt của tập đoàn, đặc biệt ở những nước có ngành HKDD phát triển như Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc và Đông Bắc Á. Xét về mặt lịch sử các tập đoàn kinh tế hàng không chủ yếu mới được hình thành và phát triển mạnh từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước cho đến nay theo hình thức phổ biến là Concern và Conglomerate của tập đoàn kinh tế nói chung. Như vậy, qua nghiên cứu cho thấy tập đoàn kinh tế nói chung và tập đoàn kinh tế hàng không nói riêng hình thành và phát triển dựa vào các tiền đề kinh tế nhất định và gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội.
Về mặt pháp lý, tập đoàn kinh tế ra đời và tồn tại được nhờ các ràng buộc, quan hệ tài chính, quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ khế ước. Còn về khía cạnh kinh tế, nó ra đời và phát triển dựa vào nền tảng công nghệ sản xuất hàng loạt và đảm nhiệm tất cả các khâu trong quá trình sản xuất liên kết và chuyên môn hoá. Do đó, trong tập đoàn kinh tế phải có một bộ phận luôn đảm bảo cung cấp được các nguồn nguyên, vật liệu kịp thời, đúng quy cách để giảm thiểu chi phí đầu vào, một bộ phận chuyên sản xuất sản phẩm và một bộ phận thực hiện việc phân phối, tiêu thụ hàng loạt sản phẩm trên thị trường theo một lịch trình chi tiết và chính xác. Khái niệm về tập đoàn kinh tế và tập đoàn kinh tế hàng không 1.
Khái niệm về tập đoàn kinh tế Nhận diện về loại hình tập đoàn kinh tế hiện nay là rất đa dạng. Tập đoàn kinh tế ở nhiều nước khác nhau gắn với tên gọi khác nhau. Nhiều nước gọi là group hay business group; ở Ấn độ dùng thuật ngữ business houses; ở Nhật bản trước 11 123doc 12 chiến tranh thế giới thứ hai gọi là zaibatsu và sau chiến tranh thế giới thứ hai gọi là keiretsu; ở Trung quốc dùng thuật ngữ tập đoàn doanh nghiệp… Tùy theo điều kiện, thời gian, trình độ phát triển và mục tiêu quản lý của mỗi quốc gia, người ta có nhiều quan điểm khác nhau về tập đoàn kinh tế. Theo cuốn Từ điển Business English của Longman, tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một tập đoàn gồm một công ty mẹ và một hay nhiều công ty hay chi nhánh góp vốn cổ phần chịu sự kiểm soát của công ty mẹ [45, tr.
Theo các tác giả của cuốn Từ Điển Anh - Pháp - Việt (1998), khái niệm "Group" (tức là tập đoàn) được hiểu là "Một tập đoàn kinh tế và tài chính gồm một công ty mẹ và các công ty khác mà nó kiểm soát hay trong đó nó có tham gia. Mỗi công ty bản thân nó cũng có thể kiểm soát các công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác" [45, tr.