Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Điếc. Chƣơng 2: Thực trạng dạy – học của giáo viên và học sinh Điếc tại trƣờng tiểu học Xã Đàn và trƣờng dạy trẻ Điếc Nhân Chính trên địa bàn Hà Nội. Chƣơng 3: Đề xuất thử nghiệm một số trò chơi phát triển kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ kí hiệu cho trẻ Điếc lớp đầu cấp tiểu học. Kết luận Phụ lục Tài liệu tham khảo 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ ĐIẾC 1.
Hệ thống các khái niệm cơ bản và khái niệm cốt lõi của đề tài 1. Khái niệm cơ bản - Tật Điếc: Sự tiếp nhận âm thanh của bộ máy thính giác có thể không đầy đủ và trung thực, thậm chí bị mất…Hiện tƣợng này có thể xảy ra ngay từ tai ngoài. Trong ống tai có nhiều ráy tai, làm cản trở sóng âm vào màng hoặc màng nhĩ quá dày kém rung động làm ảnh hƣởng đến âm thanh nghe đƣợc. Đặc biệt ở tai giữa rất hay bị viêm nhiễm (chảy mủ tai) làm cho âm thanh không thể truyền vào tai trong làm chúng ta không nghe đƣợc hoặc nghe rất ít.
Đặc biệt tai trong là bộ phận rất nhạy cảm với một số độc tố làm suy giảm khả năng nghe và khả năng hiểu gây ra mất thính lực nặng. - Trƣờng chuyên biệt (Specail school): là loại hình trƣờng học đƣợc thiết lập dành riêng cho những trẻ em không học trƣờng bình thƣờng. - Khuyết tật thính giác (Hearing impairment): vào những năm 70 và những năm 80, các nhà chuyên môn thƣờng dùng thuật ngữ “khiếm thính”. Vào những năm 90, những ngƣời Điếc tự bác bỏ thuật ngữ “khiếm thính” và họ thích dùng thuật ngữ “Điếc” hơn.
Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ dùng từ “Điếc”. Vì vốn dĩ hai từ “Điếc” và “khiếm thính” là hai khái niệm khác nhau. Hai khái niệm chỉ sự mất hoặc giảm sút thính lực ở những mức độ khác nhau từ nhẹ tới nặng. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm cốt lõi - Trẻ Điếc (Deaf children): là những trẻ mất hẳn sức nghe (hoàn toàn không có khả năng nghe) dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hƣởng đến quá trình nhận thức của trẻ. - Phát triển ngôn ngữ giao tiếp (Develop communication language): là vốn từ vựng và cấu trúc ngôn ngữ phục vụ trong cuộc sống hàng ngày, là phƣơng tiện để phát biểu cảm xúc và nhu cầu của bản thân. Một số đặc điểm cơ bản của tật Điếc 1.1: Biểu hiện Trẻ Điếc là trẻ có sự suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau, dẫn đến sự khó khăn trong tri giác âm thanh, trong đó có âm thanh ngôn ngữ, làm hạn chế khả năng giao tiếp bằng lời và ảnh hƣởng đến quá trình nhận thức của ngƣời. Hay đơn giản hơn, khi một đứa trẻ không thể nghe đƣợc âm thanh nhƣ những đứa ngƣời cùng tuổi, chúng ta nói rằng, trẻ bị Điếc.
Trẻ Điếc chỉ gặp khó khăn với việc nghe, ngoài ra ngƣời không bị một khuyết tật nào khác về tâm thần. Hay nói một cách khác, ở trẻ Điếc sự phát triển của các cơ quan ở hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ vận động…đều phát triển bình thƣờng, trừ cơ quan thính giác. Nếu một đứa trẻ đƣợc phát hiện bị Điếc sau ba tuổi, thì sự phát triển sau này bị ảnh hƣởng rất nghiêm trọng. Bởi vì, với một ngƣời bình thƣờng, ngay từ khi mới chào đời, hoạt động giao tiếp đã bắt đầu.
Mặt khác, đây cũng là giai đoạn có ý nghĩa quyết định của quá trình thụ đắc ngôn ngữ. Do vậy, những ngƣời phát hiện Điếc sau ba tuổi đều có rất ít cơ hội nhận kích thích lời nói. Cha mẹ và những ngƣời xung quanh thì vẫn nói chuyện với trẻ, nhƣng nó không nghe thấy. Đứa trẻ đó đã bị bỏ lỡ mất cơ hội đƣợc can thiệp, bị chậm mất cơ hội phát triển về ngôn ngữ, giao tiếp và nhận thức.
Ngôn ngữ lời nói là điểm yếu ở trẻ Điếc. Trẻ Điếc không nghe dẫn đến không thể nói, không thể hiểu ngôn ngữ lời nói. Tuy nhiên, bù lại, trẻ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điếc biết sử dụng cử chỉ để giao tiếp. Những trẻ Điếc nhẹ và Điếc trung bình, có sự trợ giúp của máy trợ thính sẽ nghe và nói tốt hơn.
Việc hình thành kĩ năng giao tiếp vì vậy cũng thuận lợi hơn. Với những trẻ Điếc nặng, máy trợ thính không giúp trẻ nghe và nói đƣợc. Việc hình thành kĩ năng giao tiếp và tạo điều kiện để trẻ Điếc học tập văn hóa sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vậy có cách nào để xác định sớm và chính xác mức độ Điếc để có thể giúp đỡ nhiều hơn khi trẻ Điếc còn nhỏ? Muốn vậy, chúng ta phải nắm đƣợc cấu trúc của tai, các bệnh ở tai gây nên tật điếc ở ngƣời, xác định mức độ Điếc, từ đó mới đề ra đƣợc kế hoạch và mục tiêu can thiệp, giúp đỡ trẻ Điếc hình thành kĩ năng giao tiếp.2: Nguyên nhân Ở ngƣời, tai là cơ quan thính giác, vì vậy tật Điếc là do những khuyết tật ở tai gây nên.
Tuy nhiên, không giống với những tật khác, rất ít trẻ Điếc đƣợc phát hiện kịp thời. Thƣờng, chúng ta không thể “thấy” Điếc, một trẻ Điếc trông hoàn toàn giống một ngƣời bình thƣờng, bởi vì tai và cơ chế hoạt động của nó rất phức tạp. Dƣới đây, chúng tôi chỉ nêu một cách khái quát cấu tạo và cơ chế hoạt động của tai. Nó gồm một vài bộ phận ở ngoài và một vài bộ phận ở trong đầu chúng ta.
Bộ phận của tai mà chúng ta nhìn thấy rõ nhất là tai ngoài. Tai ngoài chỉ gồm vành tai và một phần của ống tai. Tai ngoài có nhiệm vụ thu nhận sóng âm thanh và chuyển nó vào tai giữa. Tại đây, ráy tai hoặc hạt gì đó có thể mắc kẹt, nhƣng nó không làm cho ngƣời không nghe đƣợc.
Tai giữa là một khoang trống đƣợc lấp đầy không khí và có ba xƣơng con. Sóng âm thanh từ tai ngoài đi vào làm cho các xƣơng con này chuyển động. Nếu tai giữa bị viêm, sẽ làm ảnh hƣởng đến sự hoạt động của ba xƣơng con, gây khó khăn cho âm thanh đƣợc chuyển vào tai trong. Tuy nhiên, những bệnh ở tai ngoài và tai giữa có thể đƣợc điều trị, nếu chúng đƣợc phát hiện kịp thời.
Khi tai giữa bình thƣờng, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sóng âm thanh đƣợc chuyển vào tai trong. Tai trong là một ống cuộn trông giống hình con ốc nên đƣợc gọi là ốc tai. Tai của chúng ta sẽ nghe đƣợc các âm thanh bằng một cơ chế hết sức phức tạp và tinh vi. Trong ống cuộn của ốc tai có rất nhiều nang lông.
Sóng âm thanh từ tai giữa chuyển vào làm cho các nang lông chuyển động. Sự chuyển động này, gửi một tín hiệu âm thanh đến dây thần kinh thính giác. Dây thần kinh thính giác sẽ chuyển tín hiệu sóng âm đó đến não. Trong não, tín hiệu đó sẽ đƣợc mã hóa và nhƣ vậy, tai của chúng ta đã nghe đƣợc một cái gì đó.
Đấy là những bƣớc rất cơ bản trong hoạt động nghe của tai. Nếu tất cả những nang lông trong ốc tai đều ổn thì hoạt động nghe sẽ diễn ra bình thƣờng. Ngƣợc lại, vì một lí do nào đó những sợi nang lông này hoạt động kém hoặc không hoạt động, tai của chúng ta sẽ nghe rất kém hoặc không nghe thấy. Đó là tình trạng của những trẻ bị Điếc nặng.
Ngoài ra Điếc nặng còn là hậu quả của sự tổn thƣơng dây thần kinh thính giác. Những tổn thƣơng ở tai trong có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân trƣớc khi sinh có thể do di truyền, nhiễm độc bào thai, mẹ bị sốt rubela trong giai đoạn đầu thai kì, hoặc bất đồng nhóm máu mẹ con (nhóm Rh). Những nguyên nhân gây Điếc nặng trong khi sinh, thƣờng xảy ra ở những trƣờng hợp đẻ thiếu ôxy hoặc bị chấn thƣơng.
Những trẻ sau khi sinh mới bị Điếc nặng, thƣờng là bị nhiễm trùng do vi rút hoặc vi khuẩn nhƣ viêm màng não. Còn những tổn thƣơng ở dây thần kinh giác quan thƣờng có nguyên nhân là u thần kinh. Đôi khi, Điếc nặng không xác định đƣợc nguyên nhân. Khác với các bệnh ở tai ngoài và tai giữa, bệnh ở tai trong không thể chữa khỏi một cách đơn giản và có thể bị Điếc vĩnh viễn.
Vì vậy khác với những dạng tật khác, việc xác định chính xác mức độ Điếc, thời điểm bị Điếc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục, phát triển ngôn ngữ cho trẻ Điếc. Nếu trẻ Điếc đƣợc phát hiện sớm và trị liệu, phát triển ngôn ngữ kịp thời trong khoảng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thời gian đƣợc coi là giai đoạn vàng trong sự phát triển ngôn ngữ là từ 0 đến 3 tuổi, thì tiến trình phát triển ngôn ngữ của trẻ Điếc sẽ có kết quả gần giống với trẻ bình thƣờng. Lát cắt dọc của tai Âm thanh từ ngoài, đập vào màng nhĩ, qua tai giữa vào ốc tai 2.1: Một số đặc điểm của trẻ Điếc Hình 1. Sự kết nối những sợi nang lông trong ốc tai và dây thần kinh thính giác 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Thần kinh thính giác chuyển tín hiệu âm thanh lên não 1. Phân loại Có nhiều cách phân loại Điếc, nhƣng cách phân loại dựa trên tiêu chí thính lực của ngƣời là phổ biến hơn cả. Mức độ Khả năng nghe Nghe đƣợc những âm thanh có âm lƣợng lớn hơn Điếc nhẹ (20 – 40dB) bình thƣờng. Điếc trung bình (40 – 70dB) Chỉ nghe đƣợc nhờ máy trợ thính Điếc nặng, Điếc sâu (70 – Chỉ nghe đƣợc rất ít, dù có đeo máy trợ thính.
Bảng phân loại mức độ Điếc Những trẻ Điếc nặng, Điếc sâu, Điếc bẩm sinh là những ngƣời Điếc câm. Tức là những ngƣời đó mất sức nghe đến mức mất luôn cả khả năng cảm nhận ngôn ngữ tự nhiên. Với những ngƣời đó, ngôn ngữ kí hiệu đƣợc coi nhƣ ngôn ngữ mẹ đẻ. Ở những nhóm ngƣời khác, có thể mức độ cảm nhận ngôn ngữ tự nhiên tốt hơn ở những trẻ bị Điếc câm.
Tuy nhiên tại các trƣờng học, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trung tâm giáo dục trẻ Điếc, ngôn ngữ kí hiệu vẫn đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng tiện chính để giao tiếp và học tập văn hóa. Một số đặc điểm của trẻ Điếc đầu cấp tiểu học 1. Đặc điểm tâm sinh lý và các giác quan ở trẻ Điếc giai đoạn đầu cấp Tiểu học 1.1: Đặc điểm về cảm giác, tri giác Trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác, tri giác thì thính giác có vai trò quan trọng đặc biệt.