Chương 1: Lý luận chung về giai cấp công nhân Chương 2: Thực trạng giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản phát triển giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. 6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân 1.
Khái niệm giai cấp công nhân Về khái niệm giai cấp công nhân, trong Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen coi “giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX”, là “giai cấp những người hoàn toàn không có của” [38, tr456]. Như vậy, đặc trưng chủ yếu của giai cấp vô sản, hay giai cấp công nhân thế kỷ XIX, theo Ph.Ăngghen, đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, không có của cải, không có tài sản gì khác ngoài tài sản sức lao động của bản thân; phải bán sức lao động, đi làm thuê trong các lĩnh vực lao động sản xuất vật chất nặng nhọc để được nhận một khoản giá trị sức lao động gọi là tiền lương nhằm tái sản xuất sức lao động của mình. Đến thư Gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa, Ph.Ăngghen đã nêu ra một quan điểm mới khi ông hy vọng các sinh viên “hãy cố gắng làm cho thanh niên ý thức được rằng giai cấp vô sản lao động trí óc phải được hình thành từ hàng ngũ sinh viên, giai cấp đó có sứ mệnh phải kề vai sát cánh và cùng đứng trong một đội ngũ với những người anh em của họ, những người công nhân lao động chân tay”, bởi vì, trong “sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân còn cần phải có những bác sỹ, kỹ sư, nhà hoá học, nông học và các chuyên gia khác, vì vấn đề là phải nắm lấy việc quản lý không phải chỉ bộ máy chính trị, mà còn cả toàn bộ nền sản xuất xã hội nữa”[40, tr613].
Điều đó có nghĩa rằng, trong giai cấp công nhân tương lai sẽ có những công nhân tri thức, sẽ có tầng lớp lao động trí óc. 7 Điều này cũng phù hợp với quan niệm của C. Bởi vì, từ nửa sau thế kỷ XIX, do nhận thấy sự tăng lên không ngừng của đội ngũ những người lao động trí óc nhằm đáp ứng các nhu cầu của các ngành sản xuất khác nhau của chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã nói đến những khái niệm “người công nhân tổng thể”, “giai cấp vô sản trí óc”, “giai cấp đông đảo những người giám đốc công nghiệp và thương nghiệp”. Quan niệm mới của C.Ăngghen về các bộ phận khác nhau họp thành giai cấp công nhân được xem như cơ sở để chúng ta nghiên cứu về giai cấp công nhân trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá theo hướng hiện đại và hội nhập ngày càng sâu hơn với quốc tế.Lênin, trước khi đưa ra quan niệm về giai cấp công nhân, ông đã xây dựng định nghĩa giai cấp, làm tiêu chuẩn để phân chia cơ cấu giai cấp – xã hội.
Từ đó nhận thức đúng về giai cấp công nhân.Lênin cũng đã chỉ ra đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân là lao động bằng phương thức công nghiệp, với đặc trưng: công cụ lao động là máy móc, có năng suất lao động cao, quá trình lao động mang tính xã hội hoá.Lênin viết: “… đại công nghiệp cơ khí khác với các hình thức công nghiệp trước đây, có thể tóm tắt như sau: xã hội hoá lao động … sản xuất ở trong nước ngày càng được xã hội hoá, và do đấy, làm cho người tham gia sản xuất cũng càng được xã hội hoá” [30, tr693].Lênin còn nhấn mạnh: công nhân chỉ bao gồm những ai do điều kiện sinh sống của bản thân mà thực sự có đầy đủ tâm lý vô sản; song muốn có đầy đủ tâm lý đó thì phải làm việc nhiều năm trong công xưởng, do những điều kiện chung về sinh hoạt kinh tế và xã hội bắt buộc. Như vậy, quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đều cho rằng giai cấp vô sản (giai cấp công nhân) là do nền đại công nghiệp sinh ra, là những người trực tiếp vận hành các công cụ sản xuất công nghiệp, tồn tại, phát triển cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp. Bên cạnh đó, về mặt lịch sử, giai cấp công nhân là sản phẩm xã hội của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có “điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở chế độ làm thuê”. Những đặc điểm cơ bản của giai cấp công nhân Là con đẻ của nền đại công nghiệp, được rèn luyện trong môi trường lao động công nghiệp, nên giai cấp công nhân có những đặc điểm tiến bộ so với các giai 8 tầng khác trong xã hội, dù ở thế kỷ XIX với nền công nghiệp cơ khí hoá hay nền công nghiệp tự động hoá, kinh tế tri thức hiện nay.
Đó là: Thứ nhất, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến Là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, có trình độ xã hội hoá ngày càng cao và sản xuất ra tuyệt đại bộ phận của cải vật chất cho xã hội, nên giai cấp công nhân là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nền sản xuất công nghiệp phát triển cũng luôn đặt yêu cầu ngày càng cao đối với công nhân. Đồng thời thu hút mọi giới tinh hoa trong xã hội phục vụ cho guồng máy công nghiệp, đặc biệt là đội ngũ trí thức. Trong giai cấp công nhân xuất hiện những công nhân kỹ thuật, kỹ sư, nhà quản lý, bản thân người công nhân cũng dần được trí thức hoá.
Nền đại công nghiệp hiện đại không chỉ tạo ra giai cấp công nhân, mà còn tạo ra môi trường để giai cấp công nhân không ngừng rèn luyện, nâng cao vị trí, vai trò trong nền sản xuất và trong đời sống xã hội.Ănghghen từng chỉ rõ: các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp vô sản trái lại là sản phẩm của nền đại công nghiệp đó. Từ khi giai cấp công nhân bước lên vũ đài chính trị, có Đảng tiên phong lãnh đạo, được vũ trang bằng lý luận Mác-Lênin thì tính tiên tiến càng được củng cố và không ngừng được nâng cao. Do giữ vai trò chủ yếu trong nền sản xuất lớn, có lợi ích phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động, giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có thể lãnh đạo nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh cho dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội. Như vậy, nền đại công nghiệp là môi trường ươm mầm, nuôi dưỡng những phẩm chất tiên tiến cho giai cấp công nhân.
Trình độ học vấn, tay nghề ngày càng cao làm cho công nhân tiến tới sự giác ngộ chính trị và ý thức vai trò của mình trước xã hội ngày càng mạnh mẽ. Thứ hai, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở vị thế bị áp bức, bóc lột. Giai cấp tư sản chiếm giữ quyền lực kinh tế và chính trị, trở thành giai 9 cấp thống trị. Về kinh tế, giai cấp tư sản nắm quyền sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội, do đó, chi phối quyền tổ chức, quyền quản lý sản xuất và phân phối sản phẩm.
Về chính trị, giai cấp tư sản nắm quyền lực nhà nước, dùng nó làm công cụ bảo vệ cho quyền hữu sản của mình. Là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất, nhưng giai cấp công nhân bị gạt ra khỏi quyền lực nhà nước, ở địa vị xã hội bị lệ thuộc, bị áp bức. Thực tế đó đẩy giai cấp công nhân vào vị thế đối lập với toàn bộ thế giới tư bản, công nhân không có gì là của mình để bảo vệ cả. Điều đó, quy định tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.
Bàn về vấn đề này, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Ăngghen đã phân tích: trong cuộc đấu tranh này, giai cấp công nhân không mất gì, nếu mất chỉ mất xiềng xích và sự áp bức, nếu được, giai cấp công nhân được cả thế giới. Vì vậy, giai cấp công nhân chỉ có thể được hoàn toàn giải phóng khi xoá bỏ chủ nghĩa tư bản – chế độ cuối cùng xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong cuộc đấu tranh này, giai cấp công nhân không những giải phóng cho mình mà giải phóng cho toàn xã hội. Thứ ba, giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức kỷ luật cao.
Trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại, lao động công nghiệp với kỷ luật khắc nghiệt, buộc người công nhân phải tuân thủ để, thứ nhất, bảo đảm an toàn trong quá trình vận hành hệ thống máy móc hiện đại; thứ hai, bảo đảm chất lượng sản phẩm sản xuất ra theo đúng quy cách và yêu cầu; thứ ba, bảo đảm quá trình sản xuất diễn ra đồng bộ, có sự liên kết chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ phận, dây chuyền sản xuất. Kỷ luật lao động là thuộc tính của người công nhân, được nền sản xuất công nghiệp trang bị cho. Theo Lênin, công nhân trong nền đại công nghiệp có sự phát triển nhiều hơn hết về ý thức tổ chức kỷ luật và phẩm chất cách mạng. Như vậy, kỷ luật khắc nghiệt trong lao động công nghiệp đã tôi luyện cho giai cấp công nhân ý thức tổ chức, kỷ luật cao.
Trong thời đại ngày nay, ý thức tổ chức kỷ luật của giai cấp công nhân tiếp tục được giữ gìn và phát huy đang góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 10 Thứ tư, giai cấp công nhân có sự đoàn kết chặt chẽ Trong quá trình sản xuất, tính chất xã hội hoá của nền sản xuất công nghiệp đã làm cho giai cấp công nhân thống nhất về đội ngũ.