Luận văn: Thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa tại huyện Hiệp Đức, Quảng Nam

Chuyên khảo phân tích Luận văn thạc sỹ thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa trên địa bàn huyện hiệp đức tỉnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Tính cấp thiết của đề tài

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết cấu của Luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH VĂN HÓA

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Khái niệm chính sách công

1.1.2. Khái niệm văn hóa

1.1.3. Khái niệm gia đình

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HIỆP ĐỨC, TỈNH QUẢNG NAM

3. Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa trên địa bàn huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam

Tóm tắt

I. Nền tảng phát triển Gia Đình Văn Hóa tại Hiệp Đức là gì

Việc phát triển Gia Đình Văn Hóa tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam không phải là một phong trào tự phát mà dựa trên nền tảng lý luận và thực tiễn vững chắc, bắt nguồn từ chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) đã khẳng định tầm quan trọng chiến lược của việc xây dựng gia đình văn hóa như một hạt nhân để nuôi dưỡng nhân cách và giáo dục nếp sống cho con người. Mục tiêu cốt lõi là xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, góp phần vào sự phát triển bền vững của quê hương. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia đình vừa là đối tượng thụ hưởng chính sách, vừa là chủ thể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu và triển khai chính sách này tại một địa bàn cụ thể như Hiệp Đức mang ý nghĩa cấp thiết, giúp cụ thể hóa đường lối chung thành hành động thực tiễn, phù hợp với đặc thù địa phương. Chính sách này không chỉ là một danh hiệu, mà là một tập hợp các giải pháp toàn diện nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, củng cố các giá trị đạo đức truyền thống và kiến tạo một môi trường văn hóa lành mạnh ở cơ sở.

1.1. Vai trò của gia đình trong chiến lược phát triển bền vững

Gia đình được xác định là tế bào của xã hội, là nơi hình thành và nuôi dưỡng nhân cách con người. Một gia đình vững mạnh là nền tảng cho một xã hội ổn định. Theo tinh thần Nghị quyết số 33-NQ/TW, xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam phải bắt đầu từ gia đình. Tại Hiệp Đức, việc này gắn liền với các chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Một gia đình văn hóa không chỉ dừng lại ở việc không có bạo lực, không có tệ nạn xã hội mà còn phải là một đơn vị kinh tế năng động, góp phần vào phát triển kinh tế gia đình. Sự ổn định từ mỗi gia đình sẽ tạo ra sức mạnh cộng hưởng, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của toàn huyện, từ kinh tế, văn hóa đến an ninh trật tự.

1.2. Phân tích các tiêu chí gia đình văn hóa theo quy định mới

Các tiêu chí gia đình văn hóa đã có sự điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh mới, không chỉ gói gọn trong các chuẩn mực truyền thống như "con thảo, cháu hiền". Theo Nghị định số 122/2018/NĐ-CP, các tiêu chuẩn được lượng hóa rõ ràng, bao gồm ba nhóm chính: (1) Gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; (2) Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng; và (3) Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả. Việc áp dụng các tiêu chí này vào quá trình bình xét gia đình văn hóa tại Hiệp Đức đòi hỏi sự minh bạch, công bằng và phải phản ánh đúng thực trạng đời sống văn hóa tại khu dân cư, tránh tình trạng chạy theo thành tích.

II. Thách thức trong xây dựng Gia Đình Văn Hóa tại Hiệp Đức

Quá trình triển khai thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa trên địa bàn huyện Hiệp Đức phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Sự tác động hai mặt của kinh tế thị trường là một trong những rào cản lớn nhất. Một mặt, nó cải thiện đời sống vật chất, nhưng mặt khác lại làm nảy sinh lối sống thực dụng, có nguy cơ phá vỡ các giá trị truyền thống tốt đẹp như tình làng nghĩa xóm, sự hiếu thảo trong gia đình. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước đôi khi chưa đáp ứng kịp yêu cầu thực tiễn. Việc bình xét danh hiệu gia đình văn hóa ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu, dẫn đến việc giảm sút ý nghĩa của phong trào. Các vấn đề xã hội như bạo lực gia đình, bất bình đẳng giới, và tệ nạn xã hội vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng nếp sống văn minh. Hơn nữa, nhận thức của một bộ phận người dân về vai trò và tầm quan trọng của việc xây dựng gia đình văn hóa chưa đầy đủ, còn xem đây là trách nhiệm của chính quyền thay vì là nhiệm vụ của chính mỗi gia đình.

2.1. Tác động của kinh tế thị trường đến giá trị truyền thống

Nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội để các gia đình tại Hiệp Đức phát triển kinh tế gia đình, nâng cao thu nhập. Tuy nhiên, nó cũng mang đến những thách thức về văn hóa. Áp lực kinh tế khiến thời gian các thành viên dành cho nhau ít đi, mối liên kết gia đình có thể lỏng lẻo. Sự du nhập của các luồng văn hóa ngoại lai thiếu chọn lọc có thể làm phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc, ảnh hưởng đến lối sống và hệ giá trị của thế hệ trẻ. Vấn đề này đòi hỏi các chính sách văn hóa xã hội phải linh hoạt, vừa khuyến khích phát triển kinh tế, vừa có cơ chế để bảo tồn và phát huy các giá trị gia đình truyền thống.

2.2. Những khó khăn trong công tác quản lý và bình xét danh hiệu

Công tác quản lý và bình xét gia đình văn hóa tại cơ sở còn gặp nhiều vướng mắc. Năng lực của đội ngũ cán bộ văn hóa ở một số xã, thôn còn hạn chế. Quy trình bình xét đôi khi chưa đảm bảo tính dân chủ, công khai, dẫn đến tình trạng nể nang, cào bằng. Việc chạy theo chỉ tiêu số lượng gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đã làm giảm chất lượng thực chất của phong trào. Để khắc phục, cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát và xây dựng bộ công cụ đánh giá khoa học, khách quan, đảm bảo mỗi gia đình được công nhận đều thực sự là một mô hình gia đình tiêu biểu.

III. Phương pháp triển khai xây dựng gia đình văn hóa hiệu quả

Để việc xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Hiệp Đức đi vào thực chất và mang lại hiệu quả bền vững, cần một phương pháp triển khai đồng bộ và khoa học. Trọng tâm là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các giá trị cốt lõi của gia đình. Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên chỉ đạo và kiểm tra. Hoạt động tuyên truyền không chỉ dừng lại ở các hội nghị mà phải đa dạng hóa hình thức, thông qua các buổi sinh hoạt cộng đồng, hệ thống loa truyền thanh, các cuộc thi, và sân khấu hóa. Việc lồng ghép nội dung xây dựng gia đình văn hóa vào phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và chương trình xây dựng nông thôn mới là một giải pháp chiến lược. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên đóng vai trò then chốt trong việc vận động và giám sát thực hiện tại cơ sở. Cần nhân rộng các mô hình gia đình tiêu biểu, tạo sự lan tỏa tích cực trong cộng đồng, biến phong trào từ chiều rộng sang chiều sâu.

3.1. Quy trình tuyên truyền phổ biến nếp sống văn minh

Công tác tuyên truyền phải được thực hiện thường xuyên và sâu rộng. Nội dung tuyên truyền tập trung vào Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới và các tiêu chí gia đình văn hóa cụ thể. Các hình thức hiệu quả bao gồm tổ chức nói chuyện chuyên đề, tọa đàm về kỹ năng xây dựng gia đình hạnh phúc, giáo dục con cái. Cần phát huy vai trò của các tổ hòa giải ở cơ sở, kịp thời giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong cộng đồng dân cư. Việc xây dựng và thực hiện hiệu quả hương ước, quy ước của thôn, khối phố cũng là một công cụ quan trọng để điều chỉnh hành vi, xây dựng nếp sống văn minh.

3.2. Phát huy vai trò của phụ nữ và các đoàn thể xã hội

Vai trò của phụ nữ trong việc “xây tổ ấm” là vô cùng quan trọng. Do đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp cần là lực lượng nòng cốt, triển khai các mô hình câu lạc bộ như “Gia đình hạnh phúc”, “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan”. Các đoàn thể khác như Mặt trận, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh cần phối hợp chặt chẽ, phân công nhiệm vụ rõ ràng trong việc vận động đoàn viên, hội viên của mình gương mẫu thực hiện và tham gia giám sát quá trình bình xét gia đình văn hóa, đảm bảo phong trào thực sự là của toàn dân.

IV. Kết quả thực tiễn phát triển Gia Đình Văn Hóa tại Hiệp Đức

Trong giai đoạn vừa qua, công tác phát triển gia đình văn hóa trên địa bàn huyện Hiệp Đức đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tỷ lệ gia đình được công nhận danh hiệu gia đình văn hóa liên tục tăng qua các năm, từ 10.153 hộ năm 2016 lên 10.582 hộ vào năm 2020, đạt 94% tổng số hộ. Phong trào không chỉ dừng lại ở con số mà đã có tác động tích cực đến đời sống văn hóa ở cơ sở. Nhiều mô hình gia đình tiêu biểu xuất hiện, trở thành tấm gương sáng về phát triển kinh tế gia đình, nuôi dạy con cái thành tài, và sống hòa thuận với cộng đồng. Phong trào đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các hủ tục lạc hậu dần được xóa bỏ, nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội được hình thành. Đặc biệt, việc lồng ghép với chương trình xây dựng nông thôn mới đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn, cơ sở hạ tầng và các thiết chế văn hóa được đầu tư, nâng cấp, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

4.1. Phân tích số liệu gia đình được công nhận giai đoạn 2016 2020

Số liệu thống kê từ năm 2016 đến 2020 cho thấy sự tăng trưởng ổn định về số lượng gia đình đạt chuẩn văn hóa tại hầu hết các xã, thị trấn của huyện Hiệp Đức. Ví dụ, xã Quế Thọ tăng từ 2101 hộ lên 2316 hộ, thị trấn Tân An có sự tăng trưởng đột phá lên 1574 hộ vào năm 2020. Những con số này phản ánh nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân. Tuy nhiên, sự phát triển không đồng đều giữa các xã cho thấy cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao hơn đối với những địa bàn còn gặp khó khăn, đặc biệt là các xã miền núi.

4.2. Các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu và bài học kinh nghiệm

Thành công của phong trào được thể hiện rõ nét qua các mô hình gia đình tiêu biểu, tộc họ văn hóa. Nhiều gia đình không chỉ làm kinh tế giỏi mà còn gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật, giáo dục con cháu hiếu thảo, thành đạt. Các tộc họ văn hóa đã phát huy tốt vai trò của tộc ước, lập quỹ khuyến học, giúp đỡ các thành viên khó khăn. Bài học kinh nghiệm rút ra là cần chú trọng việc phát hiện, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến. Việc tổ chức các buổi gặp mặt, tôn vinh các gia đình văn hóa tiêu biểu sẽ tạo động lực mạnh mẽ, giúp phong trào lan tỏa sâu rộng hơn trong cộng đồng.

V. Hướng đi bền vững cho phát triển Gia Đình Văn Hóa Hiệp Đức

Để phong trào phát triển gia đình văn hóa tại huyện Hiệp Đức đi vào chiều sâu và bền vững, cần có những định hướng và giải pháp mang tính chiến lược trong giai đoạn tới. Trước hết, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội về vị trí, vai trò của gia đình. Công tác xây dựng gia đình phải được xem là một nội dung trọng tâm trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, hướng mạnh về cơ sở. Việc xây dựng và thực hiện các chính sách văn hóa xã hội cần chú trọng hơn đến việc hỗ trợ các gia đình, đặc biệt là gia đình chính sách, hộ nghèo. Đồng thời, cần hoàn thiện quy trình bình xét gia đình văn hóa, đảm bảo thực chất, tránh bệnh thành tích, lấy sự hài lòng và chuyển biến tích cực trong đời sống người dân làm thước đo hiệu quả.

5.1. Giải pháp nâng cao chất lượng phong trào trong giai đoạn mới

Để nâng cao chất lượng, cần tập trung vào các giải pháp cụ thể. Thứ nhất, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa ở cơ sở. Thứ hai, xây dựng bộ tiêu chí bình xét chi tiết, phù hợp với đặc thù từng vùng, miền trong huyện. Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, theo dõi và đánh giá phong trào. Cuối cùng, tăng cường huy động các nguồn lực xã hội hóa để đầu tư cho các thiết chế văn hóa, tạo không gian sinh hoạt cộng đồng lành mạnh, góp phần nâng cao đời sống văn hóa ở cơ sở.

5.2. Tầm nhìn xây dựng con người Hiệp Đức phát triển toàn diện

Mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng gia đình văn hóa là xây dựng con người Hiệp Đức phát triển toàn diện, hướng đến các giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Một gia đình văn hóa, hạnh phúc sẽ là môi trường tốt nhất để hình thành những công dân có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe và trách nhiệm với xã hội. Đây là nền tảng vững chắc nhất để huyện Hiệp Đức thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh và hạnh phúc.

29/09/2025
Luận văn thạc sỹ thực hiện chính sách phát triển gia đình văn hóa trên địa bàn huyện hiệp đức tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIA ĐÌNH VĂN HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách công Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Theo quan niệm của Nguyễn Hữu Hải: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” Viện chính trị học khái niệm: “Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng” Theo Đặng Ngọc Lợi: chính sách công là chính sách của nhà nước, của chính phủ.

Quan niệm của Lê Chi Mai thì chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định thể hiện trên văn bản và những hành động, hành vi thực tiễn ở các địa phương. Theo quan điểm của Hồ Việt Hạnh có một số quan niệm chính sách công cụ thể như sau: Môt là, chính sách công chỉ xuất hiện trong thời kỳ xã hội loài người đã có nhà nước. Hai là, các quan niệm có xu hướng giới hạn vào chủ thể là nhà nước và nếu mở rộng thì cũng chỉ đến các chủ thể chính trị khác song cũng đặt mối quan hệ liên quan đến nhà nước. Ba là, một số quan niệm tính đến mục tiêu giải quyết vấn đề như một thành tố quan trọng làm tiêu chí xác định chính sách công.

Tiêu chí đó có thể là giải quyết những vấn đề bức xúc, quan tâm chung của cộng đồng. 10 Bốn là, chính sách công phải được xem như một quá trình xác định ý tưởng, hoạch định, thực hiện đến đánh giá. Từ những phân tích trên cho thấy, chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển. Khái niệm văn hóa Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,.

tất cả đều xuất phát từ văn hóa” [48] Theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm thì: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử". Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa như văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn….

[6] Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, các phương tiện…. 11 Từ những phân tích trên, văn hóa được hiểu là một hệ thống tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong thực tiễn lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu sinh kế phát triển và mục đích của cuộc sống con người. Khái niệm gia đình Gia đình Việt Nam thường bao gồm nhiều thế hệ cùng chung sống như: ông bà, cha mẹ, con, cháu. Họ cùng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội.

Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để mọi người và các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng gia đình văn hóa, ấm no, hạnh phúc. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật HN&GĐ [63] Gia đình được hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ. Đồng thời được nhà nước thừa nhận và bảo vệ, hiện diện đầy đủ các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa, quan hệ tổ chức, v.v… Thiết chế có tính bền vững này cũng đang vận động, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của thời đại. Gia đình là một tế bào của xã hội, là một nhóm xã hội cơ sở kiến tạo nên xã hội rộng lớn.

Do đó, sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của quê hương, đất nước phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển bền vững, sự ấm no, hạnh phúc của từng thành viên, mỗi gia đình trong xã hội tại các địa phương. [74] Như vậy, gia đình được hình thành từ quan hệ hôn nhân, huyết thống dòng tộc được xây dựng trên cơ sở truyền thống dân tộc và quy định hôn nhân gia đình từ đó phát sinh các nghĩa vụ và quyền của từng thành viên trong gia đình. Khái niệm gia đình văn hóa Năm 1960, GĐVH là khái niệm do Ban chỉ đạo nếp sống mới Trung ương đặt ra để chỉ một kiểu VHGĐ mới, một trình độ văn hóa gia đình mới ở nước ta. 12 Nếu VHGD là hệ thống các giá trị, chuẩn mực mang bản sắc riêng của gia đình thì GĐVH là danh hiệu ghi nhận, khen thưởng các gia đình đã đạt được một số các giá trị, chuẩn mực đã đề ra.

Giữa GĐVH và VHGĐ là mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức. GĐVH được hiểu và xác định dựa trên các tiêu chí cụ thể. Khi đất nước bắt đầu xây dựng xã hội mới ở miền bắc, trong giai đoạn này, trọng tâm là xóa bỏ kinh tế tư hữu, vận động nhân dân chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn, tạo nên sức mạnh đoàn kết, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Do vậy ba tiêu chuẩn của GĐVH mới năm 1962 được Bộ văn hóa khẳng định đó là gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong tâm là tham gia xây dựng hợp tác xã, không buôn bán bên ngoài; Xây dựng tinh thần đoàn kết xóm thôn, giúp nhau trong lao động sản xuất; Gia đình vệ sinh, ngăn nắp, gọn gàng và chi tiêu tiết kiệm.

[16] Đến ngày 17/9/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 122/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về xét tặng danh hiệu “GĐVH”, “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”. Theo đó, các tiêu chuẩn danh hiệu về GĐVH bao gồm gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương nơi cư trú; Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ, giúp đỡ mọi người trong cộng đồng; Tổ chức lao động, sản xuất kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng hiệu quả. Từ đó, có thể hiểu theo quan điểm của tác giả, GĐVH là gia đình đảm bảo chấp hành nghiêm các tiêu chí trong chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và được các cấp chính quyền công nhận danh hiệu GĐVH theo quy định. Khái niệm chính sách phát triển gia đình văn hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới là xây dựng môi trường văn hóa và “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình 13 Việt Nam.

Nâng cao giá trị truyền thống dân tộc, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”. Con người sống trong xã hội tất nhiên sẽ phát sinh nhiều loại quan hệ và những mối quan hệ này ở những mức độ khác nhau sẽ ảnh hưởng đến ổn định xã hội. Nhận thức được vai trò của gia đình trong việc giữ vững ổn định xã hội, phát triển kinh tế, góp phần nuôi dưỡng giáo dục, nâng cao nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước: “Xây dựng môi trường văn hóa là xây dựng VHGĐ, tạo ra ở các đơn vị cơ sở, các vùng dân cư ĐSVH lành mạnh.” [1] Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI khẳng định “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa”.

Sự phát triển bền vững của đất nước thực chất là phát triển bền vững con người mà muốn vậy, phải đặc biệt chú trọng thực hiện chiến lược phát triển văn hóa, môi trường văn hóa và VHGĐ. Từ nền tảng môi trường xã hội lành mạnh, môi trường văn hóa lành mạnh là cơ sở để xây dựng những con người toàn diện, hình thành nhân cách văn hóa, tạo nguồn nhân lực cho đất nước. [59] Qua phân tích trên, có thể hiểu, chính sách phát triển GĐVH là được hình thành và phát triển từ những giá trị văn hóa gia đình tốt đẹp, có chuẩn mực góp phần tạo nên những yếu tố nền tảng mang bản sắc văn hóa của dân tộc, tạo tiền đề xây dựng nhân cách con người, đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển với các tiêu chí cơ bản: ấm no, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ, làm nền tảng để xã hội phát triển bền vững.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ