Đặt vấn đề Tĩnh dầu là chất lỏng có mùi thơm được chiết xuất từ một số cơ quan thực vật như hoa, hạt,. Một trong những công dụng của tinh dau đó là diệt khuẩn, dùng làm chất khử trùng. Ở nước ta, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thảm thực vật vô cùng phong phú phát triển trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nên các loại cây cho tinh dau rat dồi dao. Trong đó, giống Citrus họ Rustaceae tuy có tiềm năng lớn nhưng vẫn chưa được khai thác một cách triệt để, vỏ của một số loại cây Citrus như: cam, chanh, bưởi.
từ lâu đã được sử dụng dé sản xuất tinh dau. Tinh dau Citrus có mùi thơm dễ chịu,hàm lượng Limonene cao có rất nhiều ứng dụng trong sản xuất cũng như đời sống [1]. Tương tự các loại quả có múi khác, ngoài việc cung cấp va tiêu thụ quy mô lớn mặt hàng trái cây tươi, quả cam còn được sử dụng để chế biến nước trái cây, là một trong những loại nước trái cây được ưu chuộng và tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới bởi hương vị thơm ngon và nhiều giá trị dinh dưỡng cao mà nó mang lại.Việc tiêu thụ và sản xuất cam cũng tạo ra một lượng lớn chất thải rắn ướt, đa phần là vỏ cam có thể gây ô nhiễm môi trường nếu không được xử lý đúng cách. Trong vỏ quả cam có chứanhiều tuyến tinh đầu, thay vứt bỏ như rác thải chúng ta có thé tận dụng dé khai thác sản xuất tinh dầu, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tránh lãng phí tồn nguyên liệuthiên nhiên mang lại giá trị kinh tế.
Vì vậy, đề tài hướng đến mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tận dụng tối đa lượng lớn chất thải này [2]. Được sự phân công của Bộ Môn Hợp chất thiên nhiên, dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Thị Ngọc Lan — giảng viên trường DH Nông Lâm TP.HCM tôi thực hiện dé tài “ Phát triển sản phẩm dung dịch khuếch tán chứa tinh dầu cam ”. Mục đích của đề tài Xây dựng công thức và quy trình sản xuất dung dịch khuếch tán chứa tinh dầu cam thông qua quá trình khảo sát ảnh hưởng các thông số nguyên liệu trong quá trình tạo ra sản phâm. Nội dung của đề tài Chuẩn hóa nguyên liệu đầu vảo.
Khao sát các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình tạo dung dịch khuếch tán chứa tinh dầu cam O Khảo sát loại và hàm lượng dầu nền. O Khao sát hàm lượng tinh dầu cam. O Khảo sát loại và hàm lượng chất chống oxy hóa. O Khao sát loại và hàm lượng chat nhũ hoá.
O Khảo sát tỉ lệ phối hương Khảo sát thời gian bảo quản sản phẩm. Yêu cầu Phân tích thành phan hóa học và chỉ số hóa lý của tinh dầu cam. Xây dựng công thức phối trộn sản phẩm dung dịch khuếch tán tinh dầu cam. Chương 2 TỎNG QUAN 2.
Giới thiệu về cam 2. Nguồn gốc và sự phân bố Cam sành thuộc chi Citrus, họ Rutalatae, bộ Sapindales, giới Plantae. Chi Citrus có nguồn gốc từ khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Đông Nam châu A[3]. Cam sành được gắn nhiều tên khoa học khác nhau như Citrus nobilis; Citrus reticulata hay Citrus sinensis, trên thực té cam sành là giống lai tự nhiên: C.
Quả cam là loại múi, một dang quả mong. Vỏ qua gồm ba phan là vỏ ngoài, vỏ giữa và vỏ trong. Cam được trồng rộng rãi ở những nơi có khí hậu ấm áp, và vị cam có thê biến đối từ ngọt đến chua [5]. Họ Rutaceae có khoảng 140 giống, 1.
Một số quả quan trọng của chi Citrus như Citrus sinensis (cam), Citrus paradise (bưởi), Citrus limon (chanh), Citrus reticulate (quyt), Citrus grandis (bưởi chùm), Citrus aurantium (cam chua), Citrus medica (chanh yén), va Citrus aurantifolia (chanh ta) [6].1: Phan loại thực vật của cam sành [4] Gidi Plantae Nganh Magnoliophyla Lớp Eudicots Lớp phụ Sapindales Bộ Rosidae Ho Rutaceae Ho phu Aurantoideae Chi Citrus Loai C. Cam sành là một trong những cây ăn quả chủ yếu ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam. Ở miền Bắc có cam sành Bồ Hạ (Yên Thế - Bắc Giang), cam sành Bắc Quang (Hà Giang), cam sành Hàm Yên (Tuyên Quang), ngoài ra còn một số vùng trồng tập trung nhưng diện tích nhỏ hơn như: Yên Bái, Bắc Kạn, Nghệ An. Tại miền Nam (cam sành được trồng nhiều ở Tam Bình, Trà Ôn (Vĩnh Long); Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo (Tiền Giang); Mỹ Khánh, Ô Môn (Cần Tho).
Đặc điểm hình thái Cây cam thuộc loại cây gỗ nhỏ, cao 6-10m, phân cảnh nhiều, tạo thành tán dạng hình cầu. Lá đơ, mọc cách, hình bầu dục hoặc trứng, góc lá tròn, chóp lá nhọn, kích thước khoảng 5x8cm, cuống lá dài 1-3cm, có cánh mảnh men theo 2 bên cuống. Hoa mọc đơn độc dưới nách lá, đôi khi mọc thành chùm với vài ba hoa, hoa có đường kính 2-3cm, đài hoa có 5 thùy, 5 cánh hoa màu trắng [6]. Quả cam sành có lớp vỏ day, san sùi, và thường có màu lục nhạt đến khi chín thi màu vàng cam với nhiều tuyến tinh dau.
Qua dang hình tròn có đường kính từ 4-12 em, bên trong chứa khoảng 8-12 múi, với những phần thịt mềm và nhiều sơ đan chặt chẻ với nhau va nhiều hột hạch cứng bao xung quanh. Bên ngoài được bao thêm một màng dầy khoảng 6 mm dé bảo vệ phần nước bên trong của những múi cam [5]. Thành phần hoá học Cam sành có nhiều chất đạm, béo, acid amin, b-caroten, và các chất photpho, sắt, kali, magie. Ngoài ra cam sảnh còn chứa nhiều vitamin (BI, B2, C), trong đó hàm lượng vitamin C khá cao, gấp khoảng 10 lần so với trái cây khác [5].
4 Trong vỏ xanh quả cam có chứa các chất như I-stachhydrin, hesperidin, aurantin, acid aurantinic, tinh dau cam [5].2: Thanh phan hóa học về cam [2] Thanh phan hóa học Bộ phan Flavone glycosides: Neohesperidin, Naringin, Vỏ Hesperidin, Narirutin, Triterpene, Limonene, citrol Pigment, Anthocyanin, j-cryptoxanthin, Crypoxanthin, Zeaxanthin va Rutin, Eriocitrin, Homocysteine, Polymethoxylatedflavones, Tangeretin and Nobiletin Flavonoids, Citacridone, Cibrasine va Noradrenaline Terpenoids, Linelool, B-elemene. La Triterpenes, Limonene Hoa Vitamin: B1, B2, B3, BS, B6 va Vitamin C Qua Khoang chat: Canxi, Sat, Magie, Kém, Photpho, Kali 2. Giới thiệu về tinh dầu 2. Khái niệm về tinh dầu Tinh dầu là một loại chất lỏng chứa các hop chất thơm dễ bay hơi được chiết xuất bằng cách chưng cất hơi nước hoặc ép lạnh, từ lá cây, thân cây, hoa, vỏ cây, rễ cây hoặc những bộ phận khác của thực vật [7].
Hệ thực vật trong các nguồn nguyên liệu trên với nồng độ khác nhau, có thê thay đổi từ phan triệu đến phan trăm và tinh dầu tương đối dé bay hơi. Hàm lượng tinh dầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, đi truyền , đất trồng, phân bon, thời tiết, ánh sáng, thời điểm thu hoạch. Tính chat của tinh dầu Tỉnh dầu là một hỗn hợp nhiều thành phần, nó thu được bằng phương pháp cất lôi cuốn hơi nước nên nó không tan hoặc kém tan trong nước. Tuy là một hỗn hợp nhiều thành phần nhưng mỗi loại tinh dầu khác nhau có số thành phần, hàm lượng các thành phần cũng khác nhau nên các hằng số vật lý như tỷ trọng (d), chiết suất (n), độ quang cực (a) và các chỉ số hoá học như chi số axit, chỉ số ancol, chỉ số cacbonyl, chỉ số este.
của chúng là xác định. Chính vi thế, người ta căn cứ vào các hang số vật ly và các chi số hoá học của tinh dầu dé sơ bộ nhận biết và đánh giá tinh dau [8]. Tinh chat vật lý của tinh dầu Cảm quan: Ở nhiệt độ thường tinh dầu da số ở dạng long, không màu hoặc mau vàng nhạt (trừ tinh dầu qué: nâu sam, tinh dầu Thymus đỏ.), tùy loại tinh dầu sẽ có mùi khác nhau, có vị thường cay hoặc hắc [9]. LTính tan: rất ít tan trong nước, dé bay hơi do đó có thé tách thu tinh dầu bang phương pháp chưng ct lôi cuốn hơi nước.
Tinh dau tan tốt trong côn, trong dung môi hữu cơ và các loại đầu mỡ [9]. Ty trọng thay đổi theo thành phần hóa học, tùy thuộc theo thành phần: e d<d,: chứa nhiều hợp chất hydrotecpenic hơn e d>d,: chứa nhiều hợp chất oxy hoặc nhân thơm hơn. Chi số khúc xạ: n, = 1,45 + 1,55. Chỉ số khúc xạ cao hay thấp tùy thuộc vào thành phan các chất có trong tinh dau: e n<n,: chứa nhiều hợp chất no hơn.
e n>n,: chứa nhiều hợp chất không no và thơm hon LĐiểm sôi: Không có độ sôi nhất định, thay đổi tùy theo thành phan hợp chat e 150 + 160°C: chứa nhiều hợp chất Terpene. e 250 + 280°C: chứa nhiều Sesquiterpene. e >300°C: chứa nhiều Polyterpene. Từ đó có thé tách riêng các thành phần khác nhau trong tinh dau bằng phương pháp chưng cất phân đoạn.
Điểm kết tinh: Khi hạ nhiệt độ, một số tinh dầu kết tinh như tinh dầu hồi, tinh dau bạc hà, tinh dau xá xi [9]. Hệ thực vật trong các nguồn nguyên liệu trên với nồng độ khác nhau, có thé thay đổi từ phan triệu đến phan trăm và tinh dầu tương đối dé bay hơi. Hàm lượng tinh dau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, di truyền, đất trồng, phân bón, thời tiết, ánh sáng, thời điểm thu hoạch. Tính chat hoá học của tinh dầu Dưới ảnh hưởng của nhiệt độ, anh sáng, không khí, nước, tinh dầu dễ bị oxy hóa và có thé bị nhựa hóa một phan.
Alcol trong tinh đầu bị oxy hoá biến thành aldehyd, aldehyd biến thành acid. Các hợp chất có nói đôi dé bị oxy hóa hoặc tham gia vào phản ứng cộng hợp. Các hợp chất ceton và aldehyd dé bi aldol hóa tạo nhựa khi có sự hiện diện của kiềm. Nhiều thành phần có các nhóm chức khác nhau có thể tham gia các phan ứng hóa học, làm thay đổi tính chất của tinh dau [9].
Thành phần hoá học của tỉnh dầu Thành phan hóa học của tinh dầu gồm các terpen và những dẫn xuất chứa oxy của terpen (như alcol, aldehyde, xeton.Mặc dù có nhiều cấu tử như vậy nhưng thường người ta chỉ cần một vài cấu tử chính có giá trị và mùi đặc trưng trong tỉnh dầu đó [10-11].3: Một số hợp chất chính hay gặp trong thành phan tinh dau [12] Nhóm Các chất ; Carbua terpennic (chiém nhiéu nhat): limonen, pinen, Hidrocarbon camphen, carryophyllen, sylvestren. Alcol metylic, alcol etylic, alcol cinnamic, citronellol, Alcol geraniol, linalool, bocneol, tecpineol, mentol, cineol. Phenol va ete phenolic Anetol, eugenol, safrol, apiol, tymol. Aldehit benzoic, cinnamic, sakyxilic, citral, Aldehyt citronellal.
Ceton Menton, Campho, Thuyon. Acid Axetic, butyric, benzoic, namic, fomic, Acid (dưới dang este) " salyxilic,. Cumarin Becgapten, onbelliferon. Hop chất chứa sunfua, nito, Tinh dầu có sunfua trong các họ cây thuộc họ chữ Thập halogen (Cruciferae).