Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THAM QUAN 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm về du lịch Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất.
Theo Guer Freuler thì “Du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chũng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”. Còn Kaspar thì cho rằng “Du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó”. Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”. Các nhà kinh tế cho rằng “Du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với với hoạt dộng kinh tế.
là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí”. Không giống với các quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là “một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh…”. Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, 12 truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ”.
Khái niệm du lịch được định nghĩa theo Tổ chức du lịch Thế Giới IUOTO (International Union Of Travel Organization) như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc vận hành và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ở ngoài nước họ với mục đích hòa bình, nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Theo Luật Du lịch số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017 của Quốc hội Việt Nam, hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2018, khái niệm Du lịch được hiểu là “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Thật không khó để đưa ra nhận định rằng, du lịch là một hoạt động đặc thù mang đặc điểm của cả ngành kinh tế và văn hóa - xã hội. Du lịch còn gắn liền với trách nhiệm xã hội, các phương diện đạo đức và là một phương diện để khai thác văn hóa địa phương hiệu quả.
Khái niệm du lịch tham quan Du lịch tham quan là loại hình du lịch phổ biến nhất trong hoạt động du lịch hiện nay, phục vụ khách du lịch nhu cầu mở rộng và nâng cao vốn hiểu biết của mình qua việc tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, kiến trúc, các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội tại nơi họ đến và mong muốn đến. Theo Luật du lịch Việt Nam (2005) “Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch”. Mục đích của du lịch tham quan là quan sát, khám phá, tìm hiểu, cảm nhận, nâng cao hiểu biết về các giá trị cảnh quan, môi trường tự nhiên, văn hoá, lịch sử, xã hội. Hoạt động đặc trưng chủ yếu của du lịch tham quan bao gồm: 13 - Nghe hướng dẫn viên thuyết minh, trao đổi để nâng cao hiểu biết; - Tự quan sát để cảm nhận các giá trị cảnh quan tự nhiên, văn hoá xã hội của cộng đồng; - Chụp ảnh, ghi chép những điều cảm nhận được; - Di chuyển bằng các phương tiện để tiếp cận đối tượng tham quan.
Khái niệm tài nguyên du lịch Tài nguyên nói chung hay tài nguyên du lịch nói riêng về cơ bản được hiểu là những yếu tố có sẵn trong tự nhiên hoặc do con người tạo ra mà ở một trình độ phát triển nhất định chúng được khai thác để thỏa mãn tất cả các nhu cầu nói chung hay một nhu cầu cụ thể nào đó của con người. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), "Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa". Bên cạnh khái niệm được ghi trong Luật Du lịch 2017, một khái niệm khác về tài nguyên du lịch của Pirojnick (1985) được trích dẫn khá nhiều trong các nghiên cứu về địa lý du lịch ở Việt Nam là: "Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá-lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch".
Trong khi đó các nhà khoa học du lịch Trung Quốc định nghĩa tài nguyên du lịch là "Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch". Như vậy, dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về tài nguyên du lịch, nhưng về cơ bản đều thống nhất tài nguyên du lịch là những yếu tố/kết hợp của nó có nguồn gốc tự nhiên hoặc do con người tạo ra có giá trị và góp phần tạo thành sản phẩm du lịch. Vai trò của du lịch Du lịch đang ngày càng thể hiện vai trò rõ ràng hơn trong đời sống xã hội, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại. Vai trò của du lịch được thể hiện rõ ràng đối với cả hai chủ thể: tự nhiên và xã hội.
Vai trò đối với tự nhiên Đối với tự nhiên, du lịch là động lực để các quốc gia, các vùng lãnh thổ đầu tư bảo vệ, bảo tồn và phục hồi môi trường thiên nhiên. Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử loài người, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các yếu tố, cảnh quan tự nhiên đã bị phá hủy hoặc can thiệp một cách thô bạo. Việc bảo tồn nguyên trạng và phục hồi các yếu tố tự nhiên trên phạm vi toàn thế giới đang là thách thức lớn đặt ra đối với toàn nhân loại. Trong bối cảnh đó, du lịch đang nổi lên như một giải pháp hiệu quả, với vai trò tạo động lực nội tại cho chính quốc gia, vùng lãnh thổ hay các địa phương trong bảo tồn, phục hồi các yếu tố, cảnh quan tự nhiên.
Về bản chất, chính sức hút lớn từ lợi ích kinh tế mà du lịch tạo ra đã thúc đẩy hoạt động bảo tồn trên quy mô lớn. Bởi lẽ, chính những tiêu chí thu hút khách du lịch đã buộc các quốc gia, địa phương phải tăng cường hoạt động bảo vệ, bảo tồn và tái tạo các cảnh quan cũng như những yếu tố tự nhiên nhằm thu hút khách du lịch. Ở phạm vi quốc gia, một ví dụ điển hình là các Vườn Quốc Gia, Khu bảo tồn sinh thái được lập ra bên cạnh mục đích bảo vệ đa dạng sinh học nó còn gắn liền với mục tiêu khai thác du lịch. Không dễ để bắt gặp các hoạt động du lịch sinh thái thường xuyên được tổ chức tại các Vườn Quốc Gia, Khu bảo tồn trên phạm vi toàn thế giới.
Ở phạm vi cá nhân, cộng đồng, du lịch cũng là động lực để người dân và các cộng đồng nâng cao ý thức, trách nhiệm và hành động trong bảo tồn tài nguyên thiên, bảo vệ môi trường tự nhiên. Vì đây là tiền đề quan trọng để thu hút khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm các sản phẩm du lịch tại địa phương của họ. Rất nhiều cộng đồng ở miền núi đã từ bỏ các hoạt động khai thác tự nhiên (các loại tài nguyên sinh vật và phi sinh vật) để tạo điều kiện phát triển du lịch nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống vật chất. Vai trò kinh tế Du lịch thể hiện vai trò kinh tế rất rõ trong xã hội ngày nay ở quy mô, quốc gia và quốc tế.
Trên phạm vi thế toàn cầu, du lịch đang trở thành ngành kinh tế có vị trí và vai trò quan trọng hàng đầu. Thời điểm trước đại dịch Covid-19, theo dữ liệu của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC), ngành du lịch đóng góp 10,4% GDP toàn cầu và 330 triệu việc làm, tương đương 10 % tổng số việc làm trong năm 15 2018, chiếm 6,5% tổng giá trị xuất khẩu toàn cầu và 27,2% tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ toàn. Du lịch nội địa, chiếm 71,2% tổng chi tiêu du lịch trong năm 2018. Năm 2022, sau khi cơ bản khống chế được đại dịch Covid-19, ngành du lịch thế giới đã có sự hồi phục mạnh mẽ.
Theo báo cáo của UNWTO, doanh thu từ du lịch quốc tế đã tăng trở lại và đạt 1 nghìn tỷ USD vào năm 2022, tăng 50% về giá trị thực so với năm 2021, nhờ sự phục hồi quan trọng của du lịch quốc tế.