Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu vùng biển rộng trên 1 triệu km², gấp 3 lần diện tích đất liền, cùng đường bờ biển dài 3.260 km trải dọc theo ba hướng Đông, Nam và Tây Nam. Với tỷ lệ trung bình khoảng 100 km² đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần mức bình quân của thế giới), hệ thống hơn 30 cảng biển, 114 cửa sông, 47 vũng vịnh và khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, nước ta nắm giữ tiềm năng vượt trội để phát triển kinh tế biển. Đặc biệt, vị trí địa lý của Việt Nam nằm trực tiếp trên tuyến giao thông hàng hải huyết mạch kết nối hai trung tâm du lịch tàu biển hàng đầu khu vực là Singapore và Hồng Kông, tạo điều kiện lý tưởng để đón nhận các luồng du khách quốc tế cao cấp.

Mặc dù ngành du lịch Việt Nam ghi nhận sự bứt phá ấn tượng khi đón 5,049 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2010 với tốc độ tăng trưởng bình quân 7%/năm, du lịch tàu biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu hụt hạ tầng cảng biển chuyên dụng, tính đơn điệu của sản phẩm du lịch trên bờ và các rào cản về cơ chế, chính sách xuất nhập cảnh.

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hoạt động du lịch tàu biển giai đoạn 2001 - 2011, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ thúc đẩy du lịch tàu biển đến năm 2020. Không gian nghiên cứu bao quát các trung tâm cảng biển du lịch trọng điểm như Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang và TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh điểm đến, gia tăng mức chi tiêu bình quân của du khách tàu biển (vốn cao hơn 30% đến 40% so với khách đường bộ truyền thống) và định vị thương hiệu du lịch biển đảo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của Lý thuyết kinh tế du lịch hiện đại, Lý thuyết quản trị điểm đến (Destination Management) và Mô hình phân tích năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch cảng biển. Các khung lý thuyết này chỉ rõ du lịch tàu biển (Cruise Tourism) là loại hình du lịch cao cấp đặc thù, trong đó du thuyền không chỉ đơn thuần là phương tiện vận tải mà đóng vai trò như một khu nghỉ dưỡng phức hợp đạt chuẩn 5 sao trên biển với đầy đủ tiện nghi như nhà hàng, casino, trung tâm mua sắm, sân thể thao và rạp chiếu phim.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng ma trận SWOT để nhận diện tương quan giữa điểm mạnh, điểm yếu nội tại với cơ hội và thách thức từ môi trường vĩ mô quốc tế. Các khái niệm then chốt được làm rõ bao gồm: Điểm dừng chân của tàu biển (Port of Call) - nơi du khách cập bến để trải nghiệm các chương trình tham quan trên bờ; Chương trình du lịch trên bờ (Shore Excursions); Năng lực cạnh tranh du lịch cảng biển; và Chuỗi giá trị dịch vụ du lịch tàu biển.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, các báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh du lịch của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), tài liệu của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Hiệp hội Tàu biển Quốc tế (CLIA).

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu 150 du khách quốc tế đi tàu biển tại các cảng Hạ Long, Tiên Sa, Nhà Bè, cùng 25 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia là các nhà quản lý du lịch tại các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và lãnh đạo các doanh nghiệp lữ hành quốc tế hàng đầu (như Saigontourist, Viettravel). Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo quốc tịch và độ tuổi được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho phân khúc du khách chi trả cao.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả, thống kê suy luận, phân tích định tính và ma trận SWOT là nhằm đối chiếu chính xác giữa thực trạng nguồn lực nội bộ của Việt Nam với chuẩn mực vận hành của các hãng tàu quốc tế, từ đó lượng hóa được các điểm nghẽn kỹ thuật và chính sách. Toàn bộ quy trình khảo sát, xử lý dữ liệu và đánh giá thực tiễn được triển khai đồng bộ trong mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch tàu biển đến Việt Nam có sự tăng trưởng nhưng còn nhiều biến động và chiếm tỷ trọng khiêm tốn. Nếu như năm 2001 Việt Nam chỉ đón 2,33 triệu lượt khách quốc tế nói chung thì đến năm 2010 con số này đã vượt mốc 5,049 triệu lượt. Tuy nhiên, lượng khách du lịch tàu biển chỉ chiếm dao động từ 3% đến 5% tổng lượng khách quốc tế. Dù vậy, sự tham gia của các hãng tàu danh tiếng như Star Cruises (hãng tàu lớn thứ ba thế giới) hay hãng FTV với tàu Fashion Diamond đã từng giúp lượng khách tàu biển năm 2008 tăng thêm khoảng 100.000 lượt so với năm 2007, khẳng định sức hút tự nhiên của các hải trình qua Việt Nam.

Thứ hai, cơ cấu thị trường nguồn của khách du lịch tàu biển có sự chênh lệch lớn và phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống gần. Khách du lịch tàu biển từ Trung Quốc qua các tuyến Hạ Long - Đảo Hải Nam chiếm tỷ trọng áp đảo, lên tới khoảng 44% tổng lượng khách đường biển đến Việt Nam vào năm 2006. Các phân khúc khách có mức chi trả cao đến từ Bắc Mỹ, Tây Âu, Úc và Nhật Bản còn hạn chế do thiếu các hải trình liên kết dài ngày.

Thứ ba, mức chi tiêu trên bờ của du khách tàu biển tại Việt Nam còn rất thấp, ước tính chỉ đạt bình quân từ 50 đến 70 USD/khách/ngày, thấp hơn rất nhiều so với mức 120 đến 150 USD/khách/ngày tại các cảng biển Singapore hay Thái Lan. Nguyên nhân do các dịch vụ bổ trợ trên bờ nghèo nàn, thiếu các trung tâm thương mại cao cấp và các khu phức hợp giải trí quy mô quốc tế gần cảng.

Thứ tư, sự yếu kém nghiêm trọng về hạ tầng kỹ thuật cảng biển phục vụ du lịch. Hơn 90% các chuyến tàu du lịch quốc tế cỡ lớn khi đến Việt Nam đều phải cập bến tại các cảng hàng hóa tổng hợp (như cảng Chùa Vẽ, cảng Tiên Sa, cảng Sài Gòn) hoặc phải neo đậu ngoài khơi rồi trung chuyển khách bằng tàu nhỏ (tender), gây mất an toàn, ô nhiễm bụi than/hàng hóa và làm suy giảm nghiêm trọng trải nghiệm của du khách.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ việc thiếu vắng một quy hoạch tổng thể và chiến lược quốc gia về phát triển hạ tầng cảng du lịch chuyên biệt. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tàu biển tại các hội chợ lữ hành quốc tế như ITB Berlin hay WTM London còn mang tính rời rạc, ngân sách hạn hẹp và thiếu sự phối hợp công - tư.

Khi so sánh với bài học thành công của các quốc gia láng giềng, sự chênh lệch càng rõ nét. Hàng năm, Chính phủ Thái Lan dành từ 50 đến 80 triệu USD cho Cơ quan Du lịch Thái Lan (TAT) để thực hiện các chiến dịch xúc tiến toàn cầu như "Amazing Thailand", duy trì vị thế xếp hạng năng lực cạnh tranh du lịch thứ 39/133 thế giới (theo WEF 2009). Trong khi đó, Trung Quốc sau quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế đã nâng doanh thu ngoại tệ du lịch từ 26,3 triệu USD năm 1978 lên 41,484 tỷ USD năm 2008, đồng thời thăng hạng lên vị trí 47/133 thế giới về năng lực cạnh tranh nhờ xây dựng các thương hiệu điểm đến mang tầm quốc tế tại Hải Nam hay Thanh Đảo.

Trong nghiên cứu, dữ liệu về xu hướng tăng trưởng lượng khách và cơ cấu thị trường nguồn có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường kết hợp biểu đồ cột chồng, giúp làm nổi bật tương quan giữa tốc độ tăng trưởng khách quốc tế tổng thể và tỷ trọng phân khúc khách tàu biển. Đồng thời, bảng ma trận SWOT chi tiết cung cấp cái nhìn trực diện về các điểm nghẽn hạ tầng và tiềm năng cạnh tranh của du lịch biển đảo Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Để phát triển du lịch tàu biển trở thành mũi nhọn kinh tế biển đến năm 2020, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính khả thi cao:

Thứ nhất, quy hoạch và đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển chuyên dụng cho du lịch.

  • Động từ hành động: Đầu tư xây dựng, nâng cấp và phân loại công năng bến cảng chuyên dùng phục vụ đón tàu khách du lịch quốc tế cỡ lớn (trọng tải từ 50.000 đến 140.000 GRT).
  • Target metric: Hoàn thành tối thiểu 3 cảng khách quốc tế chuyên biệt tại Quảng Ninh, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh với công suất tiếp nhận các siêu du thuyền từ 3.000 đến 5.000 khách.
  • Timeline: Giai đoạn 2013 - 2018.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Giao thông Vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển.

Thứ hai, đa dạng hóa và chuẩn hóa chuỗi sản phẩm du lịch trên bờ.

  • Động từ hành động: Thiết kế các tour du lịch sinh thái biển đảo, tour văn hóa di sản (Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An), phát triển dịch vụ MICE và các tổ hợp mua sắm miễn thuế (Duty-Free) gần cảng.
  • Target metric: Nâng mức chi tiêu bình quân của du khách trên bờ từ khoảng 60 USD lên trên 120 USD/khách/ngày; kéo dài thời gian lưu lại đất liền của các tour trong ngày lên tối thiểu 8 đến 10 giờ.
  • Timeline: Giai đoạn 2013 - 2016.
  • Chủ thể thực hiện: Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế, Hiệp hội Du lịch Việt Nam và các tập đoàn dịch vụ thương mại.

Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính và đơn giản hóa quy trình xuất nhập cảnh.

  • Động từ hành động: Triển khai cấp thị thực điện tử (e-visa), tối giản hóa thủ tục thông quan tại cảng biển cho du khách và thuyền viên theo danh sách đoàn của hãng tàu.
  • Target metric: Rút ngắn thời gian làm thủ tục thông quan cho một chuyến tàu 2.000 khách xuống dưới 45 phút; miễn thị thực đơn phương cho các thị trường nguồn trọng điểm.
  • Timeline: Giai đoạn 2013 - 2015.
  • Chủ thể thực hiện: Cục Quản lý Xuất nhập cảnh (Bộ Công an), Bộ Ngoại giao, Cục Hàng hải Việt Nam và Bộ đội Biên phòng cửa khẩu cảng.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đẩy mạnh xúc tiến quảng bá quốc tế.

  • Động từ hành động: Đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên, nhân viên điều hành tour tàu biển am hiểu đa ngôn ngữ, đạt chuẩn nghiệp vụ quốc tế; tham gia thường niên các diễn đàn du lịch tàu biển chuyên nghiệp toàn cầu như Seatrade Cruise Global.
  • Target metric: Đảm bảo 85% nhân lực trực tiếp phục vụ khách tàu biển đạt chứng chỉ nghiệp vụ du lịch tiêu chuẩn; tăng gấp đôi kinh phí xúc tiến du lịch biển hàng năm.
  • Timeline: Thường niên từ 2013 đến 2020.
  • Chủ thể thực hiện: Tổng cục Du lịch, các cơ sở đào tạo đại học/cao đẳng du lịch và các liên minh doanh nghiệp du lịch lữ hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Cục Hàng hải Việt Nam): Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc để xây dựng các đề án quy hoạch hạ tầng cảng biển, hoạch định chính sách thu hút đầu tư công - tư (PPP) và ban hành các quy chế thông quan thuận lợi cho vận tải du lịch biển.

Thứ hai, Lãnh đạo các doanh nghiệp lữ hành quốc tế và đại lý đại diện hãng tàu (Cruise Agents): Luận văn là cẩm nang hữu ích giúp các nhà điều hành phân tích hành vi tiêu dùng của khách tàu biển, xây dựng các gói sản phẩm trên bờ (Shore Excursions) độc đáo, tối ưu hóa mức giá và nâng cao kỹ năng đàm phán hợp đồng với các hãng du thuyền lớn như Star Cruises hay Royal Caribbean.

Thứ ba, Các nhà đầu tư hạ tầng cảng biển và bất động sản nghỉ dưỡng: Cung cấp góc nhìn toàn diện về dung lượng thị trường, dự báo xu hướng tăng trưởng của ngành cruise tourism châu Á, làm căn cứ nghiên cứu khả thi cho các dự án bến du thuyền quốc tế, khu mua sắm miễn thuế và trung tâm giải trí ven vịnh.

Thứ tư, Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế du lịch: Nguồn tài liệu học thuật giá trị tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu ngành kinh tế dịch vụ, ứng dụng mô hình SWOT trong phân tích năng lực cạnh tranh và phát triển hướng nghiên cứu kinh tế biển đảo bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch tàu biển có đặc trưng gì khác biệt so với các loại hình du lịch truyền thống?

Du lịch tàu biển là phân khúc nghỉ dưỡng cao cấp mà bản thân du thuyền là một tổ hợp nghỉ dưỡng 5 sao di động. Du khách thường thanh toán trước phần lớn chi phí và có mức chi tiêu phát sinh tại các điểm dừng chân cao hơn từ 30% đến 40% so với khách thông thường.

Vì sao Việt Nam có bờ biển dài nhưng lượng khách tàu biển chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ?

Mặc dù có 3.260 km bờ biển và cảnh quan vịnh biển xuất sắc, Việt Nam thiếu hạ tầng cảng chuyên dụng cho tàu khách, hơn 90% chuyến tàu phải cập cảng hàng hóa. Cùng với đó, sản phẩm tour bờ chưa phong phú và thủ tục visa cảng biển giai đoạn trước còn nhiều bất cập.

Bài học lớn nhất Việt Nam có thể học hỏi từ Thái Lan trong phát triển du lịch biển là gì?

Đó là tính chuyên nghiệp trong chiến lược xúc tiến thương hiệu quốc gia và liên kết chuỗi dịch vụ. Thái Lan đầu tư từ 50 đến 80 triệu USD mỗi năm cho quảng bá, liên kết hàng không - khách sạn - tàu biển tạo nên các gói combo hấp dẫn, linh hoạt ứng phó biến động thị trường.

Yếu tố nào đóng vai trò quyết định trong việc giữ chân và tăng chi tiêu của khách tàu biển?

Chất lượng các chương trình trải nghiệm trên bờ (Shore Excursions) mang tính quyết định. Điểm đến cần có các khu mua sắm miễn thuế, dịch vụ ẩm thực bản địa cao cấp, các show diễn nghệ thuật truyền thống và khoảng cách di chuyển từ cảng đến danh thắng dưới 60 phút.

Mục tiêu phát triển du lịch tàu biển Việt Nam giai đoạn đến 2020 đặt ra những con số nào?

Mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện hệ thống cảng chuyên biệt tại 3 miền, thu hút hàng trăm nghìn lượt khách tàu biển quốc tế mỗi năm, nâng mức chi tiêu trên bờ lên trên 120 USD/khách/ngày và đưa du lịch biển chiếm trên 65% tổng doanh thu du lịch toàn quốc.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc hệ thống lý luận và khẳng định tiềm năng vượt trội của Việt Nam với hơn 1 triệu km² vùng biển và 3.260 km bờ biển trên tuyến hàng hải du lịch quốc tế.
  • Nhận diện chính xác thực trạng phát triển du lịch tàu biển giai đoạn 2001 - 2011, chỉ rõ các điểm nghẽn cốt lõi về hạ tầng bến cảng, chuỗi dịch vụ trên bờ và cơ chế chính sách.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm giá trị từ Thái Lan và Trung Quốc nhằm vận dụng sáng tạo vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao về hạ tầng, sản phẩm, cải cách thể chế và nhân lực với lộ trình thực hiện cụ thể đến năm 2020.
  • Luận văn đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho công tác quản trị điểm đến và hoạch định chính sách kinh tế biển.

Để hiện thực hóa tiềm năng to lớn này, các nhà quản lý, nhà đầu tư và doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng bắt tay vào triển khai đồng bộ các giải pháp hạ tầng và sản phẩm. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác sâu hơn các nội dung của luận văn để ứng dụng vào thực tiễn phát triển ngành du lịch nước nhà.