CHƯƠNG 1. Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN VÈ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH 1. Quan niệm về Tâm linh 1. Khái niệm “Tâm linh ” đã được nhắc đến từ lâu trên thế giới và trong những năm gần đây, nó được nhắc đến thường xuyên và ngày càng trở nên vô cùng quen thuộc.
Tâm linh là một khái niệm rộng, thay đôi theo hoàn cảnh và có nhiều cách hiêu khác nhau. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau về tâm linh: ư'r góc nhìn tôn giáo, tín ngưỡng hay khoa học xã hội, hay từ góc nhìn thiên về những hiện tượng bí ân siêu việt, kỳ bí, nam ngoài sự hiêu biết thông thường của con người mà khoa học chưa hoặc không giải thích, chứng minh được,. mà ư'r đó có những khái niệm khác nhau. ơ phương Tây trước đây, tâm linh thường được gắn với tôn giảo từ sự nhận thức của con người thời đó trong mối quan hệ với các Đấng quyền năng, thần thánh hay ma quỷ, đen sự cứu rỗi linh hồn, sự giải thoát,.
đến mire làm cho các thuật ngữ tôn giảo và tâm linh được cho là đồng nghĩa với nhau trong nhiều thế kỷ. Những năm gần đây nhiều nhà nghiên cíh.1 khoa học xã hội trên thế giới đã đưa ra nhiều khái niệm về tâm linh, nhưng nói chung đều cho rằng tâm linh là một phạm trù xã hội, là cái vô thê trim tượng, có thê huyền bí, phản ảnh nhận thức và niềm tin của con người về các thế lực siêu nhiên. Một số nhà nghiên círu khác lại thiên về quan niệm cho rằng tâm linh là cái thiêng liêng cao cả không chỉ trong tín ngưỡng-tôn giáo mà cả trong cuộc sống thường ngày của con người. Theo Roberto Assagioli: ‘‘Tâm linh ỉà thiêng liêng, cao câ và siêu việt” (Huyền Giang dịch, 1997, Sự phát triên siêu cá nhản, sđd: 7, 8, 20Ỵ ơ Việt Nam, trong một vài từ điên, tâm linh được giải thích một cách khái quát như “tâm ” là trái tim, “linh ” là sáng suốt thiêng liêng, “tâm linh ” là lòng dạ sáng suốt thiêng liêng.
Theo Từ điên Hán Việt cùa Đào Duy Anh (1932), tâm linh là cái trí tuệ tự có bên trong lòng người. Từ điên tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2006) do Hoàng Phê chù biên đã xác định “tâm linh” theo hai nghĩa: tầm linh là “tâm 10 hồn, tinh thần và tâm linh còn là “khá năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xây ra đoi vớt mình, theo quan niệm duy tâm Trần Thị Mai Nhân trong “Vấn đề tâm linh trong tiêu thuyết Việt Nam thời kỳ đôi mới” (Tạp chí Sông Hương - số 224 (Tháng 10) - 2007) cũng cho rằng tâm linh “thường được hiểu như đời song tình thềm đầy bí ân của con người, đoi ỉập với ỷ thức kiêu lý tính thuần túy. Nó bao gồm cái phi lý tình, cái tiềm thức, vô thức, bân năng thiên phú có thê nhấn mạnh phần trực cảm, linh giác, những khâ năng bi ân Như vậy tâm linh là niềm tin cùa con người vào sự linh thiêng. Theo Nguyền Đăng Duy trong “Văn hóa tâm tình ” (Nxb Văn hóa thông tin, 2002), niềm tin được thê hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, trong đó niềm tin tâm thức gắn liền với tâm linh, với niềm tin vào sự linh thiêng.
Đó là niềm tin thiêng liêng về các Đấng quyền năng như Phật, Chúa, thần thánh, về Mầu, Thành hoàng, anh hùng dân tộc, tô tiên,. Niềm tin thiêng liêng đó là yếu tố cốt lõi tạo nên đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh của con người. Từ đó Nguyễn Đăng Duy cho rằng “Tín ngưỡng, tôn giáo là lĩnh vực đặc biệt trong đời song tâm lỉnh” và “Tâm linh là cái linh thiêng cao cả trong cuộc song đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biêu tượng, hình ảnh, ý niệm ”.
Như vậy tâm linh trước hết phải gắn liền với ý thức con người, chi khi nào con người có ý thức về cái linh thiêng cao cả thì đó chính là ý thức tâm linh; từ đó nó được biêu hiện ra không chi ờ ý niệm, mà còn ờ những biêu tượng, hình ảnh về tình yêu quê hương, đất nước, ông bà tô tiên, về đền đài, đình chùa, miếu mạo, nhà thờ,. Các hình ảnh, biêu tượng thiêng liêng này lại có tác động trờ lại vào tâm hon con người và khiến nó ựr bộc lộ ra bằng những hoạt động, hành động cụ thê như cúng bái, cầu nguyện, lễ hội,. Tín ngưỡng là niềm tin của con người thê hiện thông qua những lề nghi gẳn liền với phong tục, tập quán truyền thống mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Trong khi đó, tôn giáo là niềm tin cùa con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối ưrợng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tô chức.
Tín ngưỡng theo 11 ư'r điên tiếng Pháp được dịch là “croyance”, tiếng Anh là “belief’, nhưng thực ra, tín ngưỡng không phải là niềm tin nói chung, mà là một loại niềm tin đặc biệt. Tín ngưỡng là niềm tin vào cái huyền bí, cái thiêng liêng, siêu việt không thê kiêm chứng được bằng thực tiễn. (Ban Tôn giáo Chính phũ, Đe cưomg bài giảng ỉý ìuận tin ngưỡng, tôn giáo); trong khi Tôn giáo là sự gắn kết với Thượng đế, với các Đấng Tối Cao (Phật, Chúa, .), là sự thê hiện mối quan hệ giữa cái thiêng liêng và thế tục, giĩra thế giới vô hình và hữu hình. Do đó, tín ngưỡng và tôn giáo là hai phạm trà khác nhau.
Tuy nhiên, trong học thuật, những thuật ngữ có liên quan như tôn giáo; tín ngưỡng; tôn giáo tín ngưỡng và tín ngưỡng tôn giáo thường được đánh đồng với “tâm linh”, ơ Việt Nam, trước thời kỳ Đổi mới (1986), “tôn giáo tín ngưỡng” được dùng khá phô biến và thường gắn với “mê tín dị đoan”; trong khi giới học thuật phương Tây thường thường sử dụng “tín ngưỡng tôn giáo” (religious belief) với ý nghĩa là niềm tin hay đức tin tôn giáo, ơ đây, niềm tin/đức tin chính là yếu tố quan trọng nhất đê khăng định sự tồn tại của tôn giáo. Thực tể, trong cuộc sống thường ngày, hai thuật ngữ “tâm linh” và “tôn giáo” thường được sử dụng lần lộn, thay thế cho nhau, nhưng về cơ bản chúng có chút khác biệt. Tôn giáo có nhiều vấn đề liên quan đến tâm linh, nhưng tâm linh đôi khi không liên quan gì tôn giáo cả. Cho nên, con người có thê (thấy mình) có tâm linh nhưng không phải là người có/theo tôn giáo và ngược lại, hoặc là những hiện tượng như khả năng ngoại cảm tiên tri, lên đồng, bùa chú, phù phép, trấn yêm, giác quan thứ sáu,.
thuộc về tâm linh mà không liên quan gì đến tôn giáo. Trong tham luận tại hội thảo “Vãn học và văn hóa tâm linh ” do Viện Văn học và Khoa Văn học-Ngôn ngữ, Đại học KHXH-NV TP. HCM, tổ chức tại Hà Nội, 07/03/2014, Lại Nguyên Ân cho rằng cốt lõi của đời sống tâm linh chính là sự giao tiếp với cõi thiêng với đối ưrợng linh thiêng. Sự giao tiếp có thê bị coi là hư ảo dưới con mắt cùa những kẻ đírng ngoài, nhưng giao tiếp đó là thực ở chủ thê đang thực hành.
Do đó, có thê nói tâm linh là một trải nghiệm cá nhân không thuộc về niềm tin tôn giáo. Đặc điểm tâm linh Trong phạm trù tín ngưỡng, tôn giáo thì khái niệm tâm linh biêu hiện ở các đặc điêm sau: - Tâm linh là cái vô thê tùm tượng, thiêng liêng, huyền bí. Nó là một hình thái ý thức, gắn với ý thức con người hướng đến cái thiêng liêng, cao cả. Ý thức tâm linh thê hiện qua các hình ảnh, biêu ưrợng như các cơ sờ tín ngưỡng (đình, đền, lăng, miếu, am, .), các cơ sờ tôn giáo (chùa, nhà thờ, thánh đường,.
Các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo vừa là biêu tượng, vừa là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo phản ánh đời sống tâm linh của con người. Con người tìm đen với tín ngưỡng, tôn giáo chính là tìm đến với những hình ảnh, biêu tượng thiêng liêng đó. - Tâm linh phản ảnh nhận thức và niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo của con người về các the lực siêu nhiên nằm ngoài giới hạn khách quan về sự hiêu biết của con người. Thông qua the giới siêu nhiên đó, con người thòa mãn những nhu cầu và ước vọng trần thế của mình.
- Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả không chỉ trong tín ngưỡng, tôn giáo mà cả trong cuộc sống thường ngày của con người. Tâm linh còn là một loại hiện tượng tinh thần đặc trưng ở con người, biêu hiện ờ một sổ người như là giác quan thứ sáu. Đó là những hiện tượng liên quan đen đời sổng tâm linh cùa con người trong xã hội như khả năng ngoại cảm tiên tri, gọi hồn, lên đồng, bùa chú, phù phép, trấn yêm,. Văn hoá tâm linh 1.
Khái niệm Cùng với sự xuất hiện của “tâm ìinh ”, “văn hoá tâm linh ” cũng là khái niệm mới xuất hiện gần đây và vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Trong các định nghĩa về văn hóa, cũng chưa có tài liệu nước ngoài nào đưa ra định nghĩa đề cập đến tâm linh, mà chi mới nói đến tín ngưỡng, tôn giáo. Tylor, nhà nhân học văn hóa người Anh trong “Khoa học về văn hóa” (1871) (Nguyễn Văn Khoa dịch 2019) đã định nghĩa: “Văn hóa ìà những tông thê phức hợp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, 13 nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khá năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách ỉà thành viên trong xã hội”. Tuy vẫn còn nhiều tranh luận cùa giới nghiên círu, học thuật, thuật ngữ “văn hóa tâm linh” được sử dụng ngày càng rộng rãi và phô biến ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ờ Việt Nam trong thời gian gần đây.
Trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, tất cả những biêu hiện liên quan đến đời sống tâm linh con người sẽ tạo nên văn hóa tâm linh. Tại Việt Nam, văn hóa tâm linh là khái niệm cũng được các nhà khoa học nghiên círu và đưa ra nhiều kiêu định nghĩa khác nhau. Trong “Văn hoá tâm lỉnh” (1996), Nguyễn Đăng Duy cho rằng: “Văn hỏa tâm linh ỉà văn hóa biêu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc song đời thường và biêu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc song tín ngưỡng tôn giáo ”. Ông cũng khăng định tâm linh gan bó với thuộc tính suy ưr của con người và thực tiễn của đời sống đã trở thành một thứ “văn hoá tâm linh” trong nền văn hoá nói chung.