Tổng quan nghiên cứu

Phát triển du lịch bền vững đã trở thành xu thế tất yếu của ngành du lịch toàn cầu kể từ đầu thập niên 1990 nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hóa bản địa. Tại Việt Nam, tỉnh Đắk Lắk nổi lên như một điểm đến giàu tiềm năng với sự quy tụ của hơn 44 dân tộc anh em cùng di sản văn hóa phi vật thể không gian cồng chiêng Tây Nguyên và truyền thống săn bắt, thuần dưỡng voi rừng độc đáo. Trong đó, huyện Buôn Đôn sở hữu diện tích tự nhiên hơn 1.412 km² với 7 đơn vị hành chính cấp xã, giữ vị trí then chốt trên bản đồ du lịch của tỉnh.

Tuy nhiên, thực trạng hoạt động du lịch tại Buôn Đôn trước năm 2013 vẫn mang tính tự phát, nghèo nàn về sản phẩm và chưa tạo được sức hút khác biệt. Doanh thu du lịch chủ yếu tập trung vào hệ thống nhà hàng, khách sạn tại thành phố Buôn Ma Thuột, trong khi cộng đồng dân cư địa phương chỉ hưởng lợi trực tiếp dưới 15% tổng giá trị chuỗi dịch vụ.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng, tiềm năng và nhận diện các rào cản phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Buôn Đôn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian các buôn văn hóa truyền thống tiêu biểu như buôn Niêng, buôn Trí A, buôn Tul cùng các điểm danh thắng Cầu treo, Thác Bảy Nhánh trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc định hình mô hình quản trị du lịch có sự tham gia của người dân, hướng tới mục tiêu gia tăng tỷ lệ tham gia của cộng đồng bản địa từ dưới 20% lên trên 50%, tạo sinh kế ổn định và bảo tồn bền vững cảnh quan sinh thái Vườn quốc gia Yok Đôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên hai lý thuyết nền tảng: Lý thuyết phát triển du lịch bền vững và Lý thuyết quản trị tài nguyên dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT). Tác giả vận dụng mô hình thang bậc 7 cấp độ tham gia của cộng đồng do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Lương đề xuất, bao gồm các nấc thang từ thấp đến cao: Thụ động, Thông tin, Tư vấn, Khuyến khích, Chức năng, Tương tác và Chủ động. Mô hình này giúp xác định chính xác vị thế và vai trò của người dân trong toàn bộ chuỗi cung ứng dịch vụ.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp quan điểm phát triển du lịch cộng đồng của Nicole Hausler và Wolfgang Strasdas (năm 2000) kết hợp khung phân tích của Viện Nghiên cứu Phát triển Miền núi (TMI). Hệ thống khái niệm cốt lõi được làm rõ bao gồm: Du lịch cộng đồng (loại hình du lịch do người dân sở hữu, quản lý và thụ hưởng lợi ích), Phát triển bền vững (sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội và bảo tồn tài nguyên), Cơ chế chia sẻ lợi ích và Sức chứa môi trường nhân văn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, Ủy ban nhân dân huyện Buôn Đôn và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát thực địa trong giai đoạn 2011 - 2013.

Cỡ mẫu điều tra thực nghiệm bao gồm 250 du khách nội địa và quốc tế cùng 150 hộ gia đình dân tộc thiểu số tại buôn Niêng, buôn Trí A và buôn Tul. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng cho nhóm du khách tại các điểm tham quan nhằm thu thập ý kiến đánh giá về chất lượng sản phẩm dịch vụ. Nhóm cộng đồng dân cư được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp ngẫu nhiên tại các cụm dân cư truyền thống để khảo sát nhận thức và mức độ sẵn sàng tham gia du lịch.

Lý do lựa chọn phương pháp tiếp cận phân tích hệ thống kết hợp ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT) là vì hoạt động du lịch cộng đồng chịu sự chi phối đa chiều từ 6 nhóm chủ thể: cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp lữ hành, cộng đồng dân cư bản địa, khách du lịch và các tổ chức phi chính phủ. Phương pháp này đảm bảo tính khách quan khoa học, lượng hóa được các chỉ báo kinh tế - xã hội và phản ánh toàn diện mối quan hệ biện chứng trong hệ thống lãnh thổ du lịch Buôn Đôn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch tại Buôn Đôn mới dừng lại ở mức Thụ động và Khuyến khích. Theo số liệu khảo sát, có tới 68,5% người dân tham gia vào chuỗi dịch vụ chỉ làm các công việc thời vụ, giản đơn với thu nhập bấp bênh như chèo thuyền độc mộc, dắt voi, bán hàng lưu niệm nhỏ lẻ hoặc phục vụ ăn uống phụ trợ, hoàn toàn vắng bóng trong các khâu quản lý, điều hành tour và hoạch định chính sách.

Thứ hai, doanh thu du lịch trên địa bàn huyện Buôn Đôn ghi nhận mức tăng trưởng bình quân khoảng 12% đến 15% mỗi năm trong giai đoạn 2008 - 2011, đạt hơn 18 tỷ đồng vào năm 2011. Tuy nhiên, tỷ lệ giá trị kinh tế giữ lại cho cộng đồng dân cư bản địa chỉ chiếm xấp xỉ 10% đến 14%, phần lớn lợi nhuận tập trung vào các công ty lữ hành bên ngoài và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ quy mô lớn.

Thứ ba, sự đơn điệu và trùng lặp của sản phẩm du lịch là điểm nghẽn nghiêm trọng. Khoảng 82% du khách được khảo sát cho rằng các trải nghiệm thưởng thức cồng chiêng, uống rượu cần, ăn cơm lam tại Buôn Đôn chưa tạo được nét độc bản so với các địa phương khác trong vùng Tây Nguyên. Đồng thời, có 74% du khách bày tỏ mong muốn được tương tác sâu hơn với đời sống thường nhật của đồng bào Ê Đê, M'Nông và tìm hiểu tri thức dân gian thuần dưỡng voi.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng tiếp cận còn nhiều hạn chế. Dưới 15% lao động tham gia phục vụ du lịch tại địa phương từng qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ, tạo ra rào cản lớn trong việc nâng cao mức chi tiêu của du khách.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu vắng cơ chế liên kết ba bên chặt chẽ giữa Chính quyền - Doanh nghiệp lữ hành - Cộng đồng bản địa. Doanh nghiệp chủ yếu khai thác triệt để các tài nguyên sẵn có mà chưa chú trọng tái đầu tư cho cộng đồng. Về phía người dân, do thiếu nguồn vốn ban đầu và kỹ năng kinh doanh nên tâm lý e dè, tự ti còn phổ biến.

Khi so sánh với mô hình du lịch cộng đồng tại làng Ghandruk thuộc Khu bảo tồn Annapurna (Nepal) - nơi thành lập các ủy ban du lịch tự quản với tỷ lệ trích quỹ cộng đồng đạt trên 30% doanh thu, hoặc mô hình Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) với hơn 33% số hộ dân chuyển đổi thành công sang làm dịch vụ lưu trú homestay, Buôn Đôn đang bộc lộ rõ nguy cơ thương mại hóa thiếu kiểm soát và suy thoái văn hóa truyền thống.

Các kết quả điều tra có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ cột chồng phân tích cơ cấu phân chia lợi nhuận giữa các chủ thể kinh doanh, kết hợp với biểu đồ mạng nhện thể hiện 7 cấp độ tham gia của cộng đồng tại từng buôn khảo sát. Việc mô hình hóa dữ liệu này chứng minh rằng nâng cao năng lực cộng đồng là chìa khóa then chốt để chuyển dịch từ mô hình khai thác tài nguyên thô sang chuỗi giá trị du lịch trải nghiệm bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Thành lập Ban Quản lý Du lịch Cộng đồng cấp huyện và Ban tự quản tại các buôn trọng điểm (buôn Niêng, buôn Trí A, buôn Tul) do Ủy ban nhân dân huyện Buôn Đôn chủ trì trong giai đoạn 2014 - 2015, nhằm nâng tỷ lệ hộ dân tham gia trực tiếp vào tổ hợp tác du lịch đạt mức tối thiểu 40% vào năm 2017 và 60% vào năm 2020.

Thiết lập cơ chế phân phối lợi ích công bằng và quỹ phát triển cộng đồng bằng cách ban hành quy chế trích lại từ 15% đến 20% doanh thu bán vé tham quan, dịch vụ lữ hành để tái đầu tư vào công trình dân sinh, y tế, vệ sinh môi trường nông thôn và bảo tồn không gian sống của đàn voi nhà. Giải pháp này do Phòng Tài chính - Kế hoạch phối hợp với các doanh nghiệp du lịch triển khai thực hiện từ năm 2014 đến 2018.

Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho lực lượng lao động địa phương thông qua việc tổ chức định kỳ 4 đến 6 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng đón tiếp khách, chế biến ẩm thực truyền thống, nghiệp vụ hướng dẫn viên bản địa và bảo vệ môi trường, mục tiêu đào tạo đạt trên 300 lượt người dân bản địa hàng năm. Đơn vị chủ trì là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk kết hợp với các cơ sở đào tạo chuyên ngành.

Đa dạng hóa sản phẩm du lịch đặc thù gắn với bảo tồn di sản bằng việc phục dựng không gian nhà dài Ê Đê nguyên bản, khôi phục các nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, đan lát, tạc tượng gỗ và phát triển mô hình du lịch sinh thái ngắm voi thân thiện thay thế dần dịch vụ cưỡi voi truyền thống, hướng tới nâng tỷ lệ hài lòng của du khách lên trên 85% từ năm 2016 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa - Thông tin các huyện miền núi có thể ứng dụng khung 7 cấp độ tham gia để xây dựng đề án quy hoạch tổng thể du lịch cộng đồng, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế xanh từ 10% đến 15% mỗi năm cho địa phương.

Các doanh nghiệp lữ hành, nhà đầu tư và chuyên gia phát triển sản phẩm du lịch có thể nghiên cứu các giải pháp liên kết chuỗi giá trị nhằm tối ưu hóa quan hệ đối tác với người dân bản địa, giảm thiểu xung đột xã hội và tăng 30% hiệu quả truyền thông thương hiệu điểm đến.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Việt Nam học, Nhân học, Xã hội học tìm thấy trong luận văn nguồn tư liệu thực chứng phong phú với hơn 100 tài liệu tham khảo chuẩn mực và bộ chỉ số khảo sát thực địa chi tiết về khu vực Tây Nguyên.

Các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phát triển quốc tế và ban quản lý các vườn quốc gia có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu làm tiền đề thiết kế các dự án sinh kế giảm nghèo bền vững, bảo tồn tri thức bản địa và bảo vệ đa dạng sinh học tại các vùng đệm tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Du lịch cộng đồng tại Buôn Đôn có điểm gì khác biệt so với các tỉnh miền núi phía Bắc? Điểm khác biệt nổi bật của Buôn Đôn nằm ở không gian sinh thái rừng khộp Vườn quốc gia Yok Đôn cùng di sản thuần dưỡng voi rừng và sử thi Tây Nguyên độc nhất vô nhị. Thay vì chỉ tập trung vào dịch vụ lưu trú homestay như vùng Tây Bắc, sản phẩm tại Buôn Đôn gắn liền với văn hóa mẫu hệ Ê Đê và lễ hội cồng chiêng, đạt tỷ lệ nhận diện thương hiệu trên 78% đối với du khách yêu thích văn hóa bản địa.

Vì sao người dân địa phương tại Buôn Đôn trước năm 2013 chưa hưởng lợi tương xứng từ du lịch? Nguyên nhân chủ yếu do người dân thiếu vốn đầu tư, thiếu kỹ năng quản trị và chưa có tổ chức đại diện đứng ra đàm phán với doanh nghiệp lữ hành. Hơn 85% doanh thu tour trọn gói thuộc về các đơn vị kinh doanh bên ngoài, khiến tỷ lệ tích lũy của cộng đồng bản địa duy trì dưới 15%, dẫn đến tình trạng chảy máu nguồn thu du lịch.

Khung lý thuyết 7 cấp độ tham gia của cộng đồng được vận dụng như thế nào trong nghiên cứu? Nghiên cứu sử dụng thang bậc 7 cấp độ từ Thụ động đến Chủ động để đo lường mức độ can thiệp của người dân vào quá trình ra quyết định. Kết quả khảo sát chỉ ra hơn 68% người dân Buôn Đôn đang ở bậc Thụ động và Khuyến khích, từ đó luận văn đề xuất lộ trình chuyển hóa cụ thể để người dân đạt tới cấp độ Tương tác và Chủ động làm chủ tài nguyên.

Luận văn đã rút ra bài học kinh nghiệm nào từ các mô hình du lịch cộng đồng quốc tế? Từ mô hình làng Kanas (Tân Cương, Trung Quốc) với 661 hộ dân và làng Ghandruk (Nepal), luận văn đúc kết bài học về thiết lập quy ước buôn làng, kiểm soát tốc độ thương mại hóa và trích lập từ 20% đến 30% doanh thu dịch vụ cho quỹ công ích nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài.

Điều kiện tiên quyết để huyện Buôn Đôn triển khai thành công các khuyến nghị của luận văn là gì? Điều kiện then chốt là sự đồng thuận tự nguyện của người dân bản địa kết hợp với chính sách trợ vốn ưu đãi từ 30 triệu đến 50 triệu đồng mỗi hộ từ Ngân hàng Chính sách Xã hội và sự cam kết chia sẻ lợi ích minh bạch từ các công ty lữ hành, tạo tiền đề cho hơn 80% hộ dân tự tin tham gia chuỗi dịch vụ du lịch.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và chuẩn hóa mô hình thang bậc 7 cấp độ tham gia của cư dân bản địa trong quản trị du lịch bền vững.
  • Đánh giá sâu sắc tiềm năng văn hóa độc đáo của 7 đơn vị hành chính thuộc huyện Buôn Đôn gắn liền với dòng sông Sêrêpôk huyền thoại và di sản voi Tây Nguyên.
  • Chỉ rõ 4 rào cản cốt lõi khiến nguồn thu giữ lại cho cộng đồng bản địa trước năm 2013 chỉ đạt dưới 15% tổng doanh thu du lịch toàn huyện.
  • Đúc kết các bài học thực tiễn giá trị từ các mô hình phát triển du lịch cộng đồng tiêu biểu trong nước và quốc tế để ứng dụng linh hoạt vào bối cảnh Tây Nguyên.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá với lộ trình triển khai rõ ràng giai đoạn 2014 - 2020 nhằm nâng tỷ lệ tham gia trực tiếp của người dân lên trên 60%.

Luận văn thạc sĩ là một công trình nghiên cứu công phu, có giá trị học thuật cao và đóng góp thiết thực cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk. Hãy khai thác và ứng dụng ngay các định hướng, mô hình giải pháp từ luận văn để xây dựng các đề án phát triển du lịch cộng đồng bền vững, gia tăng sinh kế cho người dân bản địa và bảo tồn trọn vẹn bản sắc văn hóa dân tộc.