Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Sơn La sở hữu diện tích tự nhiên 14.055 km², chiếm 4,27% diện tích cả nước và là tỉnh miền núi có quy mô địa bàn rộng thứ ba trong 63 tỉnh thành tại Việt Nam. Với vị trí chiến lược trung tâm vùng Tây Bắc, đường biên giới dài 250 km giáp Lào cùng địa hình phân hóa độc đáo, Sơn La hội tụ nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn vô cùng phong phú. Nổi bật là cao nguyên Mộc Châu ở độ cao 1.050 m và lòng hồ thủy điện Sơn La rộng khoảng 16.000 ha với chiều dài 150 km. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch sinh thái trên địa bàn trong thời gian dài vẫn mang tính tự phát, phân tán, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có và chưa giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo tồn đa dạng sinh học.

Trước bối cảnh đó, đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Môi trường của tác giả Đỗ Thị Lý tại Trường Đại học Lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lưu Quang Vinh, được triển khai nhằm thực hiện ba mục tiêu trọng tâm: đánh giá toàn diện tiềm năng tài nguyên tự nhiên và nhân văn; phân tích hiện trạng hoạt động du lịch sinh thái giai đoạn 2011 - 2017; và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch sinh thái bền vững.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ tỉnh Sơn La, tập trung chuyên sâu vào các địa bàn trọng điểm gồm huyện Mộc Châu, huyện Mường La và huyện Quỳnh Nhai trong khung thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về tốc độ tăng trưởng du khách đạt 33%/năm, công suất sử dụng buồng phòng đạt 65% vào năm 2017, đồng thời định hình mô hình liên kết phát triển du lịch sinh thái gắn liền với sinh kế của 12 dân tộc bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết sinh thái học nhân văn, lý thuyết phát triển du lịch bền vững và mô hình quản trị du lịch dựa vào cộng đồng. Thuật ngữ du lịch sinh thái lần đầu tiên được định nghĩa một cách hoàn chỉnh bởi học giả Hector Ceballos-Lascurain vào năm 1987, nhấn mạnh đến hành vi du lịch tại các vùng tự nhiên nguyên sơ với ý thức tôn trọng thế giới hoang dã và các giá trị văn hóa bản địa. Luận văn kế thừa và vận dụng định nghĩa pháp lý theo Điều 3 của Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, xác định du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư và kết hợp chặt chẽ với giáo dục bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết sức chứa sinh thái nhằm xác định ngưỡng tác động tối đa mà môi trường có thể dung nạp mà không làm suy thoái chức năng của các hệ sinh thái rừng đặc dụng hay khu bảo tồn thiên nhiên. Các mô hình phát triển du lịch cộng đồng thành công trên thế giới như mô hình bảo tồn Annapurna tại Nepal hay mô hình điều phối lợi ích tại quần đảo Galapagos thuộc Ecuador cũng được phân tích làm khung đối chiếu, giúp làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển du lịch sinh thái, cải thiện phúc lợi xã hội và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên lâu dài.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan khoa học:

Thứ nhất là phương pháp thu thập, kế thừa và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011 - 2017 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh, cùng các công trình nghiên cứu chuyên ngành liên quan. Dữ liệu thứ cấp giúp tái hiện bức tranh toàn cảnh về diễn biến lượng khách, doanh thu và năng lực cơ sở hạ tầng.

Thứ hai là phương pháp khảo sát thực địa và điều tra xã hội học bằng bảng hỏi được thực hiện trực tiếp từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2018. Cỡ mẫu điều tra bao gồm hai nhóm đại diện: nhóm thứ nhất gồm 50 du khách nội địa được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên tại các điểm dừng chân, cơ sở lưu trú và danh lam thắng cảnh ở Mộc Châu, Mường La, Quỳnh Nhai; nhóm thứ hai gồm 50 phiếu điều tra chuyên gia từ các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch (trong đó có 40 phiếu phỏng vấn trực tiếp và 10 phiếu gửi qua đường bưu điện).

Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm thu thập đánh giá thực chứng từ các chủ thể trực tiếp tham gia chuỗi giá trị du lịch. Toàn bộ số liệu sơ cấp được mã hóa, xử lý và phân tích trên phần mềm Excel bằng các thuật toán thống kê mô tả, tính tần suất, tỷ lệ phần trăm và tính bình quân gia quyền.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra và tổng hợp số liệu đã làm nổi bật 4 phát hiện căn bản về hiện trạng và tiềm năng du lịch sinh thái tỉnh Sơn La:

Thứ nhất, tiềm năng tài nguyên tự nhiên và đa dạng sinh học vô cùng phong phú. Sơn La sở hữu 161 họ, 645 chi và khoảng 1.187 loài thực vật bậc cao với nhiều loài quý hiếm như pơ mu, bách xanh, nghiến, du sam. Hệ động vật rừng ghi nhận 101 loài thú thuộc 25 họ, 347 loài chim thuộc 47 họ, 64 loài bò sát và 28 loài lưỡng cư, trong đó có nhiều loài trong Sách đỏ Việt Nam như vượn đen, gấu ngựa, cầy vằn. Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha có hơn 300 loài thực vật và 80 loài thú. Lòng hồ thủy điện Sơn La với diện tích 16.000 ha và hệ thống hang động đặc sắc như hang Dơi, Ngũ động bản Ôn tạo tiền đề vững chắc cho các sản phẩm du lịch khám phá.

Thứ hai, thị trường du lịch ghi nhận tốc độ tăng trưởng vượt bậc nhưng thời gian lưu trú còn ngắn. Giai đoạn 2011 - 2017, lượng khách đến Sơn La đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 33%/năm, tăng từ 219.496 lượt khách năm 2011 lên trên 1,2 triệu lượt khách có lưu trú vào năm 2017. Khách nội địa tăng trưởng 33,82%/năm, giữ vai trò chủ đạo so với mức tăng 25,34%/năm của khách quốc tế. Dù vậy, thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 1,78 ngày đối với khách quốc tế và 1,62 ngày đối với khách nội địa; mức chi tiêu trung bình năm 2017 của khách lưu trú nội địa là 945.000 đồng/ngày và khách quốc tế là 45 USD/ngày.

Thứ ba, sự hài lòng và đánh giá của du khách về tài nguyên cảnh quan ở mức rất cao. Kết quả khảo sát 50 du khách cho thấy có 44% đánh giá thắng cảnh thiên nhiên ở mức rất tốt và 54% đánh giá tốt (tổng tỷ lệ hài lòng đạt 98%). Về tiềm năng du lịch sinh thái, 76% du khách đánh giá Mộc Châu ở mức rất có tiềm năng và 72% đánh giá khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La (Mường La, Quỳnh Nhai) đạt mức rất có tiềm năng.

Thứ tư, điểm nghẽn lớn nằm ở hạ tầng giao thông và chất lượng lưu trú. Toàn tỉnh có 9.899,8 km đường bộ nhưng mật độ công trình giao thông chỉ đạt 0,68% (thấp hơn mức 0,78% bình quân cả nước); có tới 188/204 xã chưa đạt tiêu chí giao thông nông thôn mới. Cơ sở lưu trú tăng từ 89 cơ sở năm 2011 lên 133 cơ sở với 1.800 buồng năm 2017, nhưng số cơ sở đạt tiêu chuẩn xếp hạng 1 đến 3 sao lại giảm từ 28 cơ sở năm 2014 xuống còn 25 cơ sở năm 2017 do sự bùng nổ của các nhà nghỉ bình dân thiếu chuẩn hóa.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh sự mất cân đối rõ rệt giữa tiềm năng tài nguyên và năng lực cung ứng dịch vụ. Để minh họa trực quan, dữ liệu được trình bày hiệu quả qua bảng thống kê cơ cấu khách và biểu đồ cột so sánh tốc độ tăng trưởng buồng lưu trú so với tỷ lệ buồng đạt chuẩn xếp hạng sao. Việc khách du lịch đi trong ngày tăng đột biến từ sau năm 2014 phần lớn do hiệu ứng từ chương trình liên kết du lịch qua miền Tây Bắc, khi du khách chỉ xem Sơn La là điểm trung chuyển trước khi tiếp tục hành trình đến Điện Biên.

Nguyên nhân cốt lõi khiến nguồn thu du lịch chưa đạt kỳ vọng xuất phát từ việc hạ tầng kết nối còn chia cắt, sân bay Nà Sản dừng hoạt động từ năm 2004 chưa được nâng cấp, và các cảng thủy nội địa như Tà Hộc, Vạn Yên chưa phát huy hết công năng vận tải đường thủy 540 km. Ngoài ra, cộng đồng 12 dân tộc bản địa dù nắm giữ kho tàng văn hóa đặc sắc như điệu múa xòe Thái, lễ hội hoa Ban, ẩm thực Pa ping tộp nhưng phần lớn chưa được trang bị kỹ năng chuyên nghiệp trong việc quản lý và vận hành mô hình homestay sinh thái, dẫn đến nguy cơ thương mại hóa và xung đột môi trường tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khai thác bền vững tài nguyên và nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch sinh thái tỉnh Sơn La, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đa dạng hóa và hoàn thiện các tuyến du lịch sinh thái đặc thù: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành triển khai 3 trục không gian du lịch chính gồm: tuyến sinh thái nghỉ dưỡng nông nghiệp cao nguyên Mộc Châu - Vân Hồ; tuyến du lịch trải nghiệm văn hóa sông nước lòng hồ thủy điện Quỳnh Nhai - Mường La; và tuyến thám hiểm hang động, thể thao mạo hiểm Tà Xùa (Bắc Yên) - Co Mạ (Thuận Châu). Mục tiêu hướng tới nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,62 ngày lên 2,5 ngày trong giai đoạn 2020 - 2025.

  2. Nâng cấp đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông và cơ sở vật chất: Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La cùng Sở Giao thông Vận tải ưu tiên huy động vốn nâng cấp các tuyến Quốc lộ 43, Quốc lộ 37 và Quốc lộ 4G; đầu tư hoàn chỉnh hệ thống bến bãi tại cảng Tà Hộc và cảng Vạn Yên để khai thác vận tải du lịch đường thủy lòng hồ; phấn đấu nâng tỷ lệ đường ô tô đi lại 4 mùa tại các xã từ 70,59% lên trên 85% trước năm 2025.

  3. Đào tạo và chuẩn hóa nguồn nhân lực du lịch bản địa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch kết hợp với Trường Đại học Tây Bắc tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch sinh thái, kỹ năng quản lý nhà lưu trú cộng đồng và kiến thức bảo tồn đa dạng sinh học cho đồng bào dân tộc Thái, Mông, Mường tại các bản du lịch trọng điểm như bản Lướt (Ngọc Chiến), bản Chiềng Yên (Vân Hồ). Chỉ tiêu đặt ra là 80% lao động trực tiếp trong ngành du lịch được bồi dưỡng chuyên môn đến năm 2025.

  4. Hoàn thiện cơ chế chính sách, thu hút nguồn vốn và nâng cao ý thức bảo tồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La ban hành các gói ưu đãi đầu tư hạ tầng du lịch xanh; đẩy mạnh xúc tiến quảng bá thương hiệu Du lịch Sơn La; thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế, trích từ 5% đến 10% doanh thu dịch vụ du lịch để tái đầu tư cho công tác khoanh nuôi, bảo vệ 598.000 ha rừng và các khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, Tà Xùa, Mường La.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và môi trường: Các sở ban ngành tại Sơn La và các tỉnh vùng Trung du miền núi Bắc Bộ có thể sử dụng dữ liệu đánh giá tài nguyên của đề tài làm căn cứ hoạch định quy hoạch không gian du lịch sinh thái và ban hành các chính sách phát triển du lịch bền vững cấp tỉnh.

Thứ hai là các doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Các đơn vị kinh doanh có thể khai thác hệ thống dữ liệu khảo sát thị trường, mức chi tiêu và đánh giá của 50 du khách để xây dựng các tour du lịch sinh thái mới lạ, thiết kế các khu nghỉ dưỡng sinh thái hồ và mô hình homestay phù hợp với nhu cầu thực tế.

Thứ ba là các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Du lịch học: Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh, phương pháp kết hợp điều tra xã hội học và công cụ phân tích số liệu thực địa, đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học giá trị.

Thứ tư là các tổ chức bảo tồn và ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên: Đề tài gợi mở phương thức xây dựng mô hình du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng nhằm giảm sức ép khai thác tài nguyên rừng và tạo nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tiềm năng nổi bật nhất về tài nguyên thiên nhiên để phát triển du lịch sinh thái tại Sơn La là gì? Sơn La sở hữu cao nguyên Mộc Châu ở độ cao 1.050 m với nhiệt độ mát mẻ 18,5°C, vùng lòng hồ thủy điện Sơn La rộng khoảng 16.000 ha dài 150 km, cùng hệ sinh thái phong phú gồm 1.187 loài thực vật và 101 loài thú quý hiếm sinh sống tại các khu bảo tồn như Xuân Nha, Tà Xùa.

  2. Tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch đến Sơn La giai đoạn 2011 - 2017 diễn biến như thế nào? Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tổng lượng khách du lịch có xu hướng tăng nhanh với tốc độ bình quân đạt 33%/năm, từ 219.496 lượt khách năm 2011 lên trên 1,2 triệu lượt khách năm 2017, trong đó phân khúc khách nội địa đạt mức tăng 33,82%/năm.

  3. Khảo sát thực địa ghi nhận điểm hạn chế lớn nhất của ngành du lịch Sơn La là gì? Hạn chế lớn nhất là hạ tầng giao thông kết nối với mật độ chỉ đạt 0,68% (thấp hơn mức 0,78% của toàn quốc), 188/204 xã chưa đạt tiêu chí giao thông nông thôn mới; bên cạnh đó cơ sở lưu trú đạt chuẩn 1 đến 3 sao chỉ chiếm 25 trên tổng số 133 cơ sở năm 2017.

  4. Cộng đồng địa phương đóng vai trò như thế nào trong mô hình du lịch sinh thái tại Sơn La? Cộng đồng 12 dân tộc bản địa, đặc biệt là người Thái và người Mông, giữ vai trò chủ thể bảo tồn văn hóa và cung cấp dịch vụ du lịch trải nghiệm. Việc cộng đồng tham gia trực tiếp vào du lịch giúp tăng thu nhập, nâng cao dân trí và hỗ trợ bảo vệ 598.000 ha diện tích rừng giao khoán.

  5. Những địa bàn nào được đánh giá có tiềm năng du lịch sinh thái cao nhất trong luận văn? Kết quả khảo sát thực địa 50 du khách cho thấy huyện Mộc Châu dẫn đầu với 76% ý kiến đánh giá rất có tiềm năng, tiếp sau đó là khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La thuộc huyện Mường La và huyện Quỳnh Nhai với 72% đánh giá rất có tiềm năng phát triển du lịch hồ và nghỉ dưỡng.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những đóng góp quan trọng được tóm lược qua các điểm sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch sinh thái và phương pháp đánh giá tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn trong bối cảnh miền núi phía Bắc.
  • Kiểm kê định lượng nguồn tài nguyên sinh học quý giá với 1.187 loài thực vật, 101 loài thú, cùng cảnh quan đặc thù của cao nguyên Mộc Châu và hồ thủy điện 16.000 ha.
  • Chỉ rõ thực trạng phát triển du lịch giai đoạn 2011 - 2017 với mức tăng trưởng khách 33%/năm nhưng còn hạn chế về hạ tầng giao thông và chất lượng lưu trú chuẩn sao.
  • Phân tích chi tiết mức độ hài lòng của du khách, chỉ ra tiềm năng vượt trội của hai cụm du lịch Mộc Châu (76%) và vùng lòng hồ Quỳnh Nhai - Mường La (72%).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về sản phẩm, hạ tầng, nguồn nhân lực và chính sách bảo tồn môi trường cho giai đoạn 2020 - 2025.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp du lịch quan tâm đến chiến lược phát triển bền vững vùng Tây Bắc hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu này để cùng thúc đẩy ngành du lịch sinh thái Sơn La phát triển tương xứng với tiềm năng thiên nhiên ban tặng.