Tổng quan nghiên cứu
Ngành du lịch Việt Nam chứng kiến bước tăng trưởng vượt bậc từ 250.000 lượt khách quốc tế năm 1990 lên 3,8 triệu lượt khách quốc tế và 25 triệu lượt khách nội địa vào năm 2009, đóng góp khoảng 5% GDP quốc gia và tạo ra hơn 370.000 việc làm trực tiếp cùng 700.000 việc làm gián tiếp. Nằm trong chiến lược phát triển kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Hồng, Quần thể danh thắng Tràng An - Bái Đính với quy mô gần 8.000 ha thuộc tỉnh Ninh Bình đã khẳng định vị thế di sản tầm cỡ quốc gia và quốc tế khi chính thức nộp hồ sơ đề cử Di sản thế giới lên UNESCO vào tháng 9 năm 2012. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa và thương mại hóa du lịch nhanh chóng đã đặt ra mâu thuẫn gay gắt giữa bảo tồn tài nguyên sinh thái với quyền lợi sinh kế của cộng đồng địa phương.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết tình trạng cư dân bản địa tại khu vực Tràng An - Bái Đính tham gia du lịch còn mang tính tự phát, manh mún, thiếu tổ chức và chịu nhiều thiệt thòi trong chuỗi giá trị du lịch. Mục tiêu cụ thể của đề tài là xác lập cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn cho mô hình du lịch dựa vào cộng đồng; đánh giá toàn diện tiềm năng tài nguyên và hiện trạng tham gia của người dân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao mức sống, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường Karst đặc thù.
Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu tại ba xã đại diện là Trường Yên (772,12 ha), Ninh Xuân (357,56 ha) thuộc huyện Hoa Lư và xã Gia Sinh (529,6 ha) thuộc huyện Gia Viễn trong giai đoạn 2011–2012, có định hướng tầm nhìn đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp hệ thống 8 bản đồ chuyên đề, bộ chỉ tiêu đánh giá sức tải và cơ chế chuyển đổi sinh kế cho hàng ngàn hộ nông dân vùng đệm di sản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững do Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển đề xuất năm 1987, kết hợp với lý thuyết thể tổng hợp lãnh thổ du lịch của Kotliarov năm 1978 và quan điểm kinh tế sinh thái hiện đại. Các lý thuyết này khẳng định hoạt động kinh tế du lịch không thể tách rời không gian tự nhiên và bắt buộc phải duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái cho các thế hệ tương lai.
Mô hình nghiên cứu vận dụng thang đo 7 mức độ tham gia của cộng đồng nhằm lượng hóa mức độ can thiệp của người dân từ thụ động, cung cấp thông tin đến tự quản lý điều hành. Đồng thời, tác giả kế thừa khung phân tích từ mô hình du lịch sinh thái cộng đồng quốc tế Ventanilla tại Mexico và mô hình đồng quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại xã Nhơn Hải, tỉnh Bình Định. Các khái niệm chính được chuẩn hóa gồm: du lịch dựa vào cộng đồng như một phương thức trao quyền kinh tế - xã hội, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn cảnh quan nhiệt đới, sinh kế bền vững và cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa doanh nghiệp, chính quyền và người dân bản địa.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng, bao gồm dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Hoa Lư, Gia Viễn giai đoạn 2006–2011, các đề án quy hoạch nông thôn mới và báo cáo kinh tế du lịch của tỉnh Ninh Bình. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quá trình điều tra thực địa nghiêm ngặt chia làm hai đợt chính vào tháng 3, tháng 7 và tháng 9 năm 2012.
Quy mô chọn mẫu khảo sát xã hội học được thiết kế khoa học với tổng số 310 đối tượng. Nhóm khách du lịch gồm 100 người (50 khách quốc tế và 50 khách nội địa, thu về 89 phiếu hợp lệ gồm 42 khách quốc tế và 47 khách nội địa) được chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại các bến thuyền và cổng di tích. Nhóm cộng đồng địa phương gồm 210 hộ dân tại 3 xã (xã Trường Yên 70 phiếu, xã Ninh Xuân 66 phiếu, xã Gia Sinh 74 phiếu), chia đều theo tỷ lệ 50% số hộ trực tiếp tham gia du lịch và 50% số hộ làm nông nghiệp thuần túy theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng bằng phần mềm SPSS với thang đo Likert 5 mức độ là nhằm bảo đảm tính khách quan khi đo lường mức độ hài lòng của du khách và thái độ của cộng đồng. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia cùng các công thức toán kinh tế tính toán chỉ số thời vụ và hàm hồi quy xu thế giúp phân tích sâu tính bất ổn định của dòng khách. Hệ thống thông tin địa lý với phần mềm ArcGIS và MapInfo được ứng dụng để xây dựng 8 bản đồ chuyên đề về địa hình, tài nguyên và hiện trạng du lịch.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tiềm năng cảnh quan tự nhiên tại Tràng An - Bái Đính có giá trị vượt trội với hơn 25 hang động Karst ngập nước, gần 30 thung ngập nước tự nhiên như thung Đền Trần rộng 241.600 m2, thung Sáng rộng 15.000 m2 cùng gần 500 loài thực vật bậc cao và 41 loài thú quý hiếm. Tuy nhiên, khả năng thương mại hóa thành các sản phẩm du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng mới chỉ đạt dưới 30% tiềm năng thực tế.
Thứ hai, cơ cấu lao động và trình độ học vấn giữa các địa phương nghiên cứu có sự phân hóa sâu sắc. Tại xã Trường Yên, tỷ lệ lao động thương mại dịch vụ chiếm 26% và tiểu thủ công nghiệp chiếm 31,4%, tỷ lệ tốt nghiệp cấp ba đạt 62%. Ngược lại, tại xã Gia Sinh, tỷ lệ lao động thuần nông chiếm tới 80%, trong khi số lao động có trình độ dưới cấp ba chiếm tỷ lệ cao tới 59,1% và trình độ đại học chỉ đạt 2,4%.
Thứ ba, sự tham gia của người dân hiện chỉ dừng lại ở các nấc thang thấp nhất trong mô hình phát triển du lịch. 100% người dân tham gia hoạt động chèo đò, trông giữ xe, bán hàng rong và chụp ảnh lưu niệm hoạt động với tư cách lao động phổ thông tự do, hoàn toàn vắng bóng trong các khâu lập kế hoạch, quản trị điểm đến và điều phối tour tuyến.
Thứ tư, bất bình đẳng trong phân phối lợi ích kinh tế thể hiện rõ nét. Thu nhập của nhóm hộ làm du lịch cao hơn nhóm hộ thuần nông khoảng 1,5 đến 2 lần trong mùa cao điểm, nhưng người dân phải đối mặt với tính thời vụ gay gắt khi lượng mưa tập trung 80% đến 90% vào các tháng từ tháng 4 đến tháng 9, gây ngập lụt trần hang và làm suy giảm trực tiếp ngày công chèo đò của người dân địa phương.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên xuất phát từ cơ chế quản lý mang tính áp đặt từ trên xuống, nơi các doanh nghiệp lớn nắm giữ độc quyền khai thác dịch vụ cốt lõi, trong khi chính quyền cấp xã chưa thiết lập được quy chế phân phối lại nguồn thu từ vé thắng cảnh cho các thôn xóm. Dữ liệu thực nghiệm phân hóa sinh kế và mức độ hài lòng có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ tròn so sánh cơ cấu ngành nghề ba xã và biểu đồ cột biểu diễn biến thiên thu nhập theo mùa vụ.
Khi so sánh với mô hình cộng đồng tự quản tại Ventanilla của Mexico, Tràng An - Bái Đính thiếu hẳn một tổ chức đại diện pháp lý cho cộng đồng bản địa để đứng ra ký kết hợp đồng và bảo vệ quyền lợi hội viên. Hậu quả là người dân chuyển đổi từ vị thế chủ thể tài nguyên sang vị thế người làm thuê giá rẻ, dẫn đến nguy cơ xung đột xã hội và hành vi chèo kéo du khách khi thu nhập bị bấp bênh. Nghiên cứu khẳng định nếu không nhanh chóng chuyển đổi sang mô hình đồng quản lý, giá trị di sản sẽ bị tổn hại nghiêm trọng do áp lực khai thác quá tải và sự thiếu hợp tác từ chính người dân bản địa.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, thành lập Quỹ Phát triển Du lịch Cộng đồng trích từ 5% đến 10% doanh thu bán vé tham quan Tràng An và Bái Đính. Quỹ này do Ủy ban nhân dân huyện Hoa Lư, Gia Viễn cùng đại diện cộng đồng giám sát, triển khai trong giai đoạn 2013–2015 nhằm tái đầu tư vào hệ thống nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn và lập quỹ bảo hiểm y tế cho người chèo đò.
Thứ hai, tổ chức chuẩn hóa kỹ năng và đào tạo nghề du lịch cho 100% lao động địa phương tham gia chuỗi dịch vụ. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình chủ trì phối hợp với các trường nghiệp vụ mở từ 15 đến 20 lớp tập huấn hàng năm về văn hóa giao tiếp, ngoại ngữ cơ bản và an toàn cứu hộ đường thủy, hướng tới nâng tỷ lệ du khách đánh giá dịch vụ đạt mức hài lòng lên trên 85% vào năm 2015.
Thứ ba, đa dạng hóa chuỗi sản phẩm du lịch bản địa nhằm giảm tải cho tuyến chèo đò truyền thống. Ủy ban nhân dân xã Gia Sinh và xã Ninh Xuân phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng 3 mô hình trải nghiệm nông nghiệp sinh thái gồm: trồng và chế biến cây thuốc tại làng Sinh Dược, mô hình thêu ren truyền thống Trường Yên và dịch vụ homestay sinh thái gia đình, mục tiêu tăng tỷ trọng lao động dịch vụ phi nông nghiệp tại Gia Sinh từ 20% lên 40% trước năm 2018.
Thứ tư, ban hành quy chế đồng quản lý và thành lập Hợp tác xã Dịch vụ Du lịch Tự quản tại từng thôn xóm. Ủy ban nhân dân các xã giao quyền tự giám sát trật tự, bảng giá dịch vụ và phân chia lượt chèo đò luân phiên công bằng cho các ban tự quản xóm, hoàn thành việc cấp thẻ hành nghề chuẩn hóa cho toàn bộ lao động dịch vụ trước năm 2014.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý di sản bao gồm Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình cùng Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu địa lý, phân tích xã hội học và hệ thống bản đồ phục vụ trực tiếp cho công tác lập quy hoạch phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt và xây dựng chính sách điều tiết kinh tế di sản.
Nhóm doanh nghiệp lữ hành và các nhà đầu tư du lịch sinh thái. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về thị hiếu của 89 du khách nội địa và quốc tế, giúp doanh nghiệp thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa Cố đô và du lịch làng nghề gắn kết hài hòa với cộng đồng bản địa, giảm thiểu xung đột xã hội.
Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Môi trường, Du lịch học và Địa lý kinh tế. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình kết hợp công cụ đánh giá nhanh nông thôn, ứng dụng GIS và xử lý thống kê định lượng phục vụ nghiên cứu liên ngành.
Chính quyền địa phương cấp xã tại Trường Yên, Ninh Xuân, Gia Sinh và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ phát triển sinh kế. Luận văn cung cấp khung mẫu vận hành hợp tác xã du lịch tự quản, giúp cán bộ cơ sở có giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp hiệu quả cho hàng ngàn hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
Du lịch dựa vào cộng đồng khác biệt thế nào so với du lịch đại chúng tại các khu di sản? Du lịch dựa vào cộng đồng lấy người dân địa phương làm trung tâm quản lý và hưởng lợi, trong khi du lịch đại chúng thường do các tập đoàn lớn chi phối dòng tiền. Mô hình này giúp giữ lại nguồn thu tại chỗ và bảo vệ tài nguyên Karst bền vững hơn thông qua trách nhiệm tự quản của cư dân bản địa.
Thực trạng phân phối lợi ích kinh tế cho người dân Tràng An - Bái Đính trong luận văn được đánh giá ra sao? Kết quả khảo sát 210 hộ dân chỉ ra lợi ích kinh tế phân bổ không đồng đều. Doanh thu chính thuộc về các đơn vị bán vé và lữ hành, còn người dân địa phương chủ yếu nhận thù lao chèo đò thấp, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tính mùa vụ và chưa được chia sẻ nguồn thu từ phí bảo tồn.
Tại sao trình độ học vấn thấp lại là rào cản lớn nhất cho phát triển du lịch tại xã Gia Sinh? Thống kê cho thấy xã Gia Sinh có tới 59,1% lao động dưới cấp ba và 80% làm nông nghiệp. Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng học ngoại ngữ, ứng xử du lịch văn minh và tiếp cận kỹ năng kinh doanh homestay, khiến người dân khó thích ứng với phân khúc khách quốc tế chi tiêu cao.
Phương pháp nào được tác giả sử dụng để dự báo lượng khách du lịch đến năm 2020? Tác giả sử dụng phương pháp chuỗi thời gian kết hợp hàm xu thế hồi quy toán học và hệ số biến động mùa vụ dựa trên số liệu du khách giai đoạn 2009–2012. Cách tiếp cận này giúp tính toán sức chứa tự nhiên và dự báo nhu cầu phương tiện chèo đò phục vụ quản lý không gian di sản.
Mô hình làng nghề Sinh Dược đóng góp gì cho sự phát triển bền vững của khu du lịch Bái Đính? Làng Sinh Dược sở hữu tri thức bản địa phong phú về cây thuốc nam gắn với truyền thuyết Lý Quốc Sư. Việc khôi phục làng nghề tạo ra sản phẩm quà tặng dược liệu độc đáo, mở rộng không gian trải nghiệm văn hóa và giải quyết việc làm phi nông nghiệp cho phụ nữ và người cao tuổi tại xã Gia Sinh.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện kho tàng tài nguyên Karst nhiệt đới độc nhất với hơn 25 hang động và 500 loài thực vật bậc cao tại Quần thể Tràng An - Bái Đính.
- Đánh giá thực trạng phân hóa sinh kế qua mẫu khảo sát 210 hộ dân và 89 du khách, chỉ rõ rào cản từ trình độ lao động với 59,1% cư dân Gia Sinh chưa tốt nghiệp cấp ba.
- Xác lập cơ sở khoa học và hệ thống 8 bản đồ chuyên đề giúp lượng hóa năng lực cung ứng dịch vụ du lịch tại 3 xã nghiên cứu.
- Đề xuất lộ trình 4 giải pháp trọng tâm bao gồm lập quỹ trích từ vé tham quan, chuẩn hóa đào tạo cho 100% người chèo đò và xây dựng hợp tác xã tự quản đến năm 2020.
- Các cấp quản lý và cộng đồng địa phương cần nhanh chóng chuyển đổi tư duy từ khai thác tài nguyên thụ động sang đồng quản lý chia sẻ lợi ích để gìn giữ bền vững giá trị di sản thế giới Tràng An.