CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ 1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý phát triển du lịch làng nghề 1. Quản lý nhà nước Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ".
Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp: Là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn như ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng ta hiểu khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng như sau: Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nước, do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiến hành để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội, và hành vi hoạt động của công dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Khái niệm về làng nghề Để tìm hiểu về khái niệm làng nghề, chúng ta cần chú ý đến hai yếu tố cấu tạo nên làng nghề đó là làng và nghề. Làng là khu vực địa lý, không gian lãnh thổ nhất định mà tồn tại những tập hợp dân cư cùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có Luan van 11 mối quan hệ khăng khít với nhau. Nghề là khái niệm chỉ các hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp diễn ra tại khu vực nông thôn nơi mà lao động trong các nghề này được tách ra từ nông nghiệp với mục tiêu tăng thu nhập. Làng nghề là cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện đại, là nấc thang quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn nước ta.
Làng nghề là một khái niệm mang tính tương đối, nó phụ thuộc vào chủ trương, chính sách, quy định của từng địa phương. Mỗi khu vực, địa phương có thể có những quy định về những tiêu chí nhận dạng làng nghề khác nhau, nó chịu ảnh hưởng bởi tình hình phát triển kinh tế, xã hội nói chung và tầm quan trọng của các hoạt động ngành nghề nói riêng tại địa phương. Làng nghề cũng được đinh nghĩa là “Một cộng đồng được tập trung trên một địa bàn nhỏ, ở đó, dân cư cùng nhau sản xuất một hoặc một số loại hàng hóa hoặc dịch vụ, trong đó có ít nhất một sản phẩm hoặc dịch vụ đặc trưng, thu hút đại bộ phận lao động hoặc hộ gia đình tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính và chiếm tỷ trọng lớn so với thu nhập được tạo ra trên địa bàn hoặc cộng đồng dân cư đó”11, trg 17 Như vậy, trong khuôn khổ luận văn, có thể định nghĩa làng nghề như sau: Làng nghề là những làng được hình thành và phát triển từ những thôn làng, có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất, kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm chủ yếu trong một năm. Cùng với thử thách của thời gian, những làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo với đội ngũ thợ thủ công chuyên nghiệp có trình độ kỹ nghệ nhất định.
Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và trở thành hàng hóa trên thị trường. Đặc điểm Làng nghề gắn bó chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp. Sự ra đời của làng nghề trước tiên được xuất phát từ một bí quyết nào đó của làng, sau này, do sự phát triển của xã hội, sự đô thị hóa ở các vùng nông thôn làm cho diện tích đất canh tác bị thu hẹp, nhu cầu việc làm trong nông thôn ngày càng nhiều. Luan van 12 Làng nghề thường xuất hiện theo những con đường chủ yếu như: do nghệ nhân từ nơi khác đến truyền nghề, do một số cá nhân trong gia đình có những kỹ năng sáng tạo ra, do chủ trương khuyến khích phát triển nghề truyền thống để cải thiện đời sống nông thôn, do sự lan tỏa từ những làng nghề phụ cận … Sự phát triển của làng nghề gắn liền với sự phát triển của xã hội nông thôn.
Hay nói cách khác, làng nghề có sự gắn bó không tách rời với nông nghiệp nông thôn về lao động, thị trường, nguyên liệu, đất đai… Hình thức tổ chức sản xuất lao động nói chung vẫn là tổ chức kinh tế hộ gia đình. Một số đã có sự phát triển thành hợp tác xã và xí nghiệp tư nhân. Sản phẩm của các làng nghề thường là các vật dụng phục vụ cho đời sống sản xuất và sinh hoạt hàng ngày như các loại thực phẩm nông sản, sản phẩm mây tre đan, thêu, dệt, chạm khắc. mang tính văn hóa và mỹ thuật nhất định thể hiện bản sắc văn hóa riêng của mỗi địa phương.
Nguyên liệu cho sản xuất ở các làng nghề thường là nguyên vật liệu tại chỗ, đó là các nguyên liệu được lấy từ sản xuất nông nghiệp hoăc các hoạt động khác ngay trong nông thôn nhằm tận dụng những tiềm năng sẵn có vừa nhiều, vừa rẻ, mặt khác giúp cho làng nghề kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất phi nông nghiệp. Công nghệ sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là công nghệ thủ công, công nghệ mang tính đơn chiếc. Nhiều làng nghề hiện nay đã có sự đổi mới về công nghệ nhưng vẫn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo và khối óc tài hoa của người thợ lành nghề. Thị trường tiêu thụ hiện nay của các làng nghề không chỉ dừng lại ở trong nước mà các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng nghề còn rất được ưa chuộng trên thế giới.
Nhu cầu về vốn ở các làng nghề thường không đòi hỏi quá lớn nhưng lại giúp thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm trong vụ nông nhàn và có tiềm năng kinh tế lớn. Phân loại làng nghề Hiện nay, ở nước ta tồn tại nhiều làng nghề truyền thống khác nhau, phân bố khắp nơi trong cả nước, được tập trung nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng. Có nhiều cách phân loại làng nghề như sau: - Phân loại theo trình độ kỹ thuật bao gồm: Loại nghề có kỹ thuật đơn giản như: Đan lát, chế biến lương thực, thực phẩm. Sản phẩm của nghề này có tính chất thông dụng, phục vụ nhu cầu hàng ngày của dân cư nông thôn.
Loại nghề có kỹ thuật phức tạp như các nghề: Đúc đồng, gốm sứ, chạm khảm… Các nghề này vừa đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, yêu cầu sự khéo léo và tinh tế. - Phân loại theo tính chất kinh tế: Loại nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên: chế biến nông sản, sản xuất công cụ như: cày bừa, liềm, hái… Loại nghề mà hoạt động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp. Dựa vào giá trị sử dụng của các sản phẩm có thể phân loại các ngành nghề truyền thống theo các nhóm chính như: Sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các ngành nghề phục vụ sản xuất và đời sống; sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến lương thực, thực phẩm. - Phân loại theo lịch sử tồn tại và phát triển: Làng nghề truyền thống thường là một bộ phận dân cư sinh sống giới hạn trong một địa bàn tại các vùng nông thôn, tách khỏi sản xuất nông nghiệp, cùng làm một hoặc nhiều nghề thủ công có truyền thống lâu đời để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt của nhân dân quanh vùng.
Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ của nền kinh tế thị trường. - Phân theo tính chất của sản phẩm: Nhóm I: Gồm các nghề gốm, sứ, sơn mài thêu ren, thảm, chạm khắc gỗ, chạm mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm, mây tre đan các loại. Đây là những làng Luan van 14 nghề thủ công mỹ nghệ có sản phẩm được ưa chuộng ở trong nước và quốc tế. Tiềm năng thị trường xuất khẩu tương đối lớn.
Nhóm II: Các làng nghề sản xuất các mặt hàng tiêu dùng thông thường gồm dệt chiếu, làm nón, đan mành rổ rá… Đây là những làng nghề mà sản phẩm của chúng bị chèn ép lớn do sự phát triển của khoa học công nghệ về vật liệu mới, cạnh tranh với hàng nước ngoài. Nhóm III: Gồm các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm: làm bún bánh, làm đường, làm mật, chế biến nông lâm thủy sản… Nhìn chung, nguyên liệu cung ứng cho các làng nghề này khá phong phú. Nhóm IV: Các làng nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống như nề, mộc, rèn, hàn, đúc, làm cày bừa… Nhóm V: bao gồm các nghề khác Cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối bởi một số nghề có thể mang đặc điểm của nhiều nhóm còn lại. Vai trò của làng nghề trong việc phát triển kinh tế, xã hội.
Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội nông thôn, làng nghề có vị trí và vai trò quan trọng, đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn. Các làng nghề bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của nông thôn Việt Nam. Các sản phẩm của làng nghề là sự kết tinh và bảo lưu các giá trị văn hoá lâu đời, được khách hàng trong và ngoài nước nhìn nhận dưới góc độ giá trị văn hóa, nghệ thuật là chủ yếu. Bảo tồn và phát triển làng nghề là tăng thêm sức mạnh nguồn cội, phát huy nền văn hóa, văn minh nhân loại.
Hình thành loại hình sản xuất có tính chất công nghiệp ngay tại địa bàn nông thôn.