Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hà Nội sở hữu mật độ làng nghề dày đặc nhất cả nước với 1.350 làng nghề và làng có nghề, chiếm gần 59% tổng số làng toàn thành phố, trong đó có 244 làng nghề truyền thống được lưu giữ qua nhiều thế hệ. Sự kết hợp giữa phát triển làng nghề truyền thống và hoạt động du lịch văn hóa mở ra tiềm năng kinh tế to lớn, tạo ra mức thu nhập cho lao động địa phương cao gấp từ 3 đến 5 lần so với sản xuất thuần nông. Mặc dù đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế nông thôn, thực tiễn quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề tại Hà Nội trong những năm qua vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: hoạt động du lịch phần lớn mang tính tự phát, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, công tác quảng bá chưa tương xứng và sự phối hợp quản lý liên ngành còn rời rạc.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Kinh tế của tác giả Nguyễn Hải Hường, do PGS. Bùi Xuân Nhàn hướng dẫn khoa học tại Trường Đại học Thương mại, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết: hoàn thiện hệ thống công cụ và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với phát triển du lịch làng nghề trên địa bàn Thủ đô. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian toàn thành phố Hà Nội với trọng tâm là các số liệu thực tế giai đoạn 2008 – 2012, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược định hướng đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc thúc đẩy giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh (đạt 7.650,87 tỷ đồng năm 2009) và kim ngạch xuất khẩu của khối làng nghề (đạt 754,9 triệu USD năm 2009, chiếm 11,86% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thành phố), đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa di sản Thăng Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên lý luận quản lý nhà nước về kinh tế theo nghĩa rộng, tức là sự chỉ huy, điều hành của bộ máy nhà nước nhằm định hướng, điều tiết và tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát triển đúng quy hoạch. Trong lĩnh vực du lịch, quản lý nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, kiểm soát vệ sinh môi trường và bảo đảm an ninh trật tự tại các điểm đến.

Nghiên cứu vận dụng mô hình phát triển du lịch văn hóa bền vững, phân tích mối quan hệ tác động tương hỗ hai chiều giữa bảo tồn làng nghề và khai thác du lịch. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa gồm: làng nghề truyền thống (không gian sinh thái - văn hóa gắn với kỹ nghệ tinh xảo lâu đời), du lịch làng nghề (loại hình du lịch văn hóa tổng hợp khai thác tài nguyên nghề thủ công) và quản lý phát triển du lịch làng nghề (hệ thống chính sách, quy hoạch và thanh tra giám sát của chính quyền). Bên cạnh đó, tác giả đúc kết bài học thực tiễn từ phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) của Nhật Bản từ thập niên 1970 và Thái Lan từ năm 2001 (mang lại 84,2 triệu USD doanh thu chỉ sau 4 tháng đầu năm 2002), kết hợp kinh nghiệm quản lý tại Ninh Bình với 36 làng nghề được công nhận và mô hình du lịch sinh thái làng nghề tại Đồng Nai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 06/01/2012 của Bộ Chính trị, các thông tư, quy hoạch của UBND Thành phố Hà Nội giai đoạn 2000 – 2012 và các báo cáo thống kê chuyên ngành.

Dữ liệu sơ cấp được xử lý từ cuộc khảo sát thực địa với quy mô 250 mẫu phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp tại 52 làng nghề tiêu biểu trên địa bàn Hà Nội. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích nhằm bao phủ các nhóm nghề đặc trưng như gốm sứ Bát Tràng (huyện Gia Lâm), lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông), mây tre đan Phú Vinh (huyện Chương Mỹ) và khảm trai Chuôn Ngọ (huyện Phú Xuyên). Kết quả thu về 232 phiếu điều tra hợp lệ (đạt tỷ lệ 92,8%).

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tuyệt đối - tương đối và tổng hợp định tính là nhằm đo lường chính xác thực trạng nhận thức của người dân, đánh giá mức độ hoàn thiện của hạ tầng dịch vụ, đồng thời chỉ ra khoảng cách giữa chính sách ban hành và hiệu quả thực thi tại cơ sở. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được tiến hành trong giai đoạn 2008 – 2012 và hoàn thành vào tháng 5 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra quy mô giá trị sản xuất của các ngành nghề nông thôn tại Hà Nội tăng trưởng ấn tượng từ 5.990,53 tỷ đồng năm 2008 lên 14.731,84 tỷ đồng năm 2012, tương đương mức tăng hơn 145,9% sau 5 năm. Cơ cấu giá trị phân bổ không đều giữa các ngành, trong đó năm 2012 nhóm dệt may đạt 4.128,88 tỷ đồng, mây tre đan đạt 2.541,27 tỷ đồng và chế biến nông sản đạt 2.168,70 tỷ đồng.

Về phân bố địa lý, các làng có nghề tập trung mật độ cao tại các huyện: Chương Mỹ (174 làng), Thường Tín (125 làng), Phú Xuyên (124 làng) và Ứng Hòa (113 làng). Xét theo ngành nghề năm 2010, mây tre đan chiếm tỷ trọng lớn nhất với 176 làng (chiếm 24,8% tổng số 709 làng có nghề được thống kê chi tiết), tiếp đến là chế biến lương thực thực phẩm với 121 làng (chiếm 17,06%).

Khảo sát thực tế trên 232 phiếu hợp lệ cho thấy một khoảng trống lớn: chỉ có 75 ý kiến (chiếm 32,3%) nhận định làng nghề tại địa phương có hoạt động kết hợp với du lịch. Đa số các làng nghề chỉ dừng lại ở quy mô sản xuất hàng hóa đơn thuần, chưa khai thác giá trị dịch vụ tham quan trải nghiệm.

Nhiều làng nghề có quy mô doanh thu sản xuất vượt trội năm 2011 như dệt kim La Phù đạt 810 tỷ đồng/năm, La Dương - Ỷ La đạt 416 tỷ đồng/năm, gốm sứ Bát Tràng đạt 350 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, giá trị kinh tế thu được từ du khách tham quan và dịch vụ lưu trú vẫn chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn so với bề dày lịch sử hàng trăm năm của các làng nghề như lụa Vạn Phúc (1.200 năm), khảm trai Chuôn Ngọ (1.000 năm) hay gốm Bát Tràng (600 năm).

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh công tác quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế cố hữu. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc quy hoạch phát triển du lịch làng nghề chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch kinh tế - xã hội tổng thể. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch như đường giao thông nội bộ, bãi đỗ xe, biển chỉ dẫn và khu vệ sinh công cộng tại 52 làng nghề được khảo sát đều ở tình trạng thiếu thốn hoặc xuống cấp.

Nguồn nhân lực du lịch tại chỗ vừa thiếu vừa yếu: mặc dù thành phố tập trung 116 nghệ nhân ưu tú và nghệ nhân dân gian, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề chỉ đạt khoảng 23%, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ hướng dẫn viên am hiểu lịch sử văn hóa và kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý như Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Công Thương và chính quyền cấp huyện còn chồng chéo, chưa hình thành cơ chế điều phối thống nhất.

Dữ liệu thực trạng được hệ thống hóa rõ nét qua các biểu đồ phân bổ quy mô làng nghề theo quận huyện và bảng tổng hợp giá trị sản xuất giai đoạn 2008 – 2012 trong luận văn. So sánh với các mô hình quốc tế, công tác quản lý của Hà Nội cần nhanh chóng chuyển dịch từ tư duy quản lý hành chính đơn thuần sang tư duy quản trị trải nghiệm du lịch, lấy cộng đồng làm trung tâm và phát triển thương hiệu đặc sản gắn với di sản địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch không gian và đầu tư hạ tầng đồng bộ. UBND Thành phố Hà Nội cần phê duyệt quy hoạch mạng lưới các điểm du lịch làng nghề trọng điểm giai đoạn đến năm 2020, ưu tiên nguồn vốn ngân sách và vốn xã hội hóa để nâng cấp 100% hệ thống giao thông tiếp cận, bãi đỗ xe đạt chuẩn và khu trưng bày sản phẩm tại các làng nghề tiêu biểu như Bát Tràng, Vạn Phúc, Phú Vinh và Hạ Thái.

Thứ hai, thiết kế và phát triển các tour tuyến du lịch chuyên đề gắn với di tích lịch sử văn hóa. Sở Du lịch phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp lữ hành xây dựng tối thiểu 5 tuyến du lịch đặc trưng kết nối trung tâm Hà Nội với các cụm làng nghề vệ tinh, mục tiêu nâng thời gian lưu trú của du khách quốc tế và tăng chi tiêu bình quân của du khách lên từ 15% đến 20% mỗi năm.

Thứ ba, chuẩn hóa công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch cộng đồng. Sở Công Thương và Sở Lao động Thương binh Xã hội tổ chức các khóa tập huấn nghiệp vụ đón tiếp, ngoại ngữ và kỹ năng bán hàng cho ít nhất 500 hộ kinh doanh và thợ thủ công mỗi năm, phát huy vai trò truyền nghề của 116 nghệ nhân để xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm chuyên nghiệp.

Thứ tư, đổi mới xúc tiến thương mại và tăng cường kiểm soát vệ sinh môi trường. Xây dựng bộ nhận diện thương hiệu số cho 244 làng nghề truyền thống, đẩy mạnh quảng bá trên các kênh truyền thông quốc tế; đồng thời thanh tra, giám sát nghiêm ngặt việc xử lý rác thải, nước thải sản xuất, đảm bảo 100% làng nghề du lịch có khu xử lý chất thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách gồm Sở Du lịch, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch Đầu tư và UBND các quận, huyện trên địa bàn Hà Nội. Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học vững chắc để các đơn vị xây dựng chiến lược, ban hành chính sách ưu đãi đầu tư và hoàn thiện quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề kết hợp du lịch.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Kinh tế, Kinh tế Phát triển và Du lịch học. Tài liệu đóng vai trò nguồn tham khảo học thuật giá trị về phương pháp thiết kế mẫu điều tra thực địa 232 phiếu và khung phân tích quản lý công đối với các ngành kinh tế truyền thống.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành, công ty tổ chức sự kiện và các nhà đầu tư dịch vụ du lịch. Báo cáo cung cấp bức tranh chi tiết về tiềm năng văn hóa, doanh thu sản xuất và đặc điểm sản phẩm của 52 làng nghề trọng điểm, hỗ trợ doanh nghiệp thiết kế sản phẩm tour trải nghiệm độc đáo và mở rộng kênh phân phối thủ công mỹ nghệ.

Nhóm ban quản lý làng nghề, hiệp hội ngành nghề và các hộ sản xuất kinh doanh tại địa phương. Luận văn gợi mở định hướng chuyển đổi mô hình từ sản xuất nhỏ lẻ sang kinh doanh dịch vụ du lịch trải nghiệm, giúp nâng cao giá trị thặng dư của sản phẩm và bảo vệ môi trường làng nghề bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Mục tiêu cốt lõi của công tác quản lý phát triển du lịch làng nghề tại Hà Nội là gì? Mục tiêu trung tâm là phát huy các giá trị văn hóa lịch sử độc đáo của 244 làng nghề truyền thống để đa dạng hóa sản phẩm du lịch Thủ đô, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn gấp từ 3 đến 5 lần so với sản xuất nông nghiệp thuần túy, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ thương mại.

Quy mô làng nghề trên địa bàn Hà Nội có những đặc điểm nổi bật nào? Hà Nội tập trung 1.350 làng nghề và làng có nghề, chiếm gần 59% tổng số làng toàn thành phố và hội tụ 47 trên tổng số 52 nghề truyền thống của cả nước. Trong đó, huyện Chương Mỹ dẫn đầu với 174 làng, Thường Tín có 125 làng và Phú Xuyên có 124 làng, tạo ra tổng giá trị sản xuất đạt 14.731,84 tỷ đồng vào năm 2012.

Vì sao tỷ lệ làng nghề phát triển du lịch tại Hà Nội thời gian qua vẫn còn thấp? Kết quả khảo sát 232 mẫu thực tế chỉ ra chỉ có 32,3% làng nghề có hoạt động kết hợp du lịch. Nguyên nhân chủ yếu do hạ tầng giao thông và dịch vụ bãi đỗ xe yếu kém, tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được xử lý dứt điểm, nguồn nhân lực qua đào tạo nghề du lịch chỉ đạt khoảng 23% và thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa làng nghề với các công ty lữ hành.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào có thể ứng dụng hiệu quả cho du lịch làng nghề Hà Nội? Mô hình Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) của Thái Lan và Nhật Bản là bài học kinh nghiệm sâu sắc. Điển hình tại Thái Lan, chương trình này đã đem lại 84,2 triệu USD doanh thu chỉ trong 4 tháng đầu năm 2002 nhờ chính sách phân loại sản phẩm đặc trưng, liên kết thị trường xuất khẩu tại chỗ và tập trung đào tạo kỹ năng thương mại cho cư dân địa phương.

Giải pháp nào giúp giải quyết dứt điểm mâu thuẫn giữa sản xuất thủ công và ô nhiễm môi trường du lịch? Thành phố cần đẩy nhanh tiến độ quy hoạch các cụm công nghiệp làng nghề tập trung như mô hình Cụm công nghiệp làng nghề Ninh Phong quy mô 23 ha, di dời các công đoạn sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, đồng thời đầu tư đồng bộ hệ thống cấp thoát nước và xử lý chất thải đạt chuẩn kỹ thuật nhằm giữ gìn cảnh quan đón tiếp du khách.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khẳng định vai trò then chốt của quản lý nhà nước đối với việc bảo tồn, phát triển du lịch làng nghề truyền thống.
  • Bức tranh thực trạng tại Hà Nội được lượng hóa chi tiết qua quy mô 1.350 làng có nghề, giá trị sản xuất đạt 14.731,84 tỷ đồng năm 2012 cùng mạng lưới 244 làng nghề truyền thống giàu tiềm năng.
  • Nghiên cứu chỉ ra những rào cản cốt lõi về hạ tầng, nguồn nhân lực đào tạo nghề (đạt 23%) và tỷ lệ liên kết du lịch khiêm tốn (32,3%) thông qua khảo sát thực chứng 232 mẫu.
  • Xác lập 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ từ quy hoạch không gian, phát triển chuỗi tour tuyến di sản, đào tạo 116 nhóm nhân lực nghệ nhân đến đổi mới xúc tiến thương mại đến năm 2020.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn quan trọng, làm cơ sở để các cơ quan quản lý ban hành cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả.

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hải Hường là tài liệu tham khảo không thể thiếu dành cho các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp lữ hành quan tâm đến sự phát triển bền vững của kinh tế làng nghề Thủ đô. Để khai thác trọn vẹn hệ thống dữ liệu điều tra thực địa và hệ thống bảng biểu chi tiết, quý độc giả hãy tra cứu toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Thương mại hoặc liên hệ các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành.