Chương 1 TÔNG QUAN 1. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái 1. Lịch sử hình thành Từ nửa cuối thế kỷ 19, cùng với sự ra đời của các hình thái du lịch thiên nhiên đã thu hút du khách một cách đặc biệt. Vườn quốc gia Yellowstone (Mỹ) là một VQG đầu tiên của thế giới được thành lập vào năm 1893.
Ngay từ khi mới ra đời VQG này đã được thế giới biết đến vì đã thành công trong việc bảo vệ tuyệt đối của tính hoang da của thế giới động thực vật và vẻ đẹp của thiên nhiên. Hàng năm có đến 3 triệu người trên hành tinh này kéo đến đây để chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên huyền bí, những điều bí ẩn, quan sát và ngắm nhìn đàn bò rừng Bizon mà không đâu có thé có được. Như vậy ngay từ rất sớm, những nhà DLST đầu tiên đã bắt đầu hình thành. Ngày nay, sự hoàn thiện của phương tiện hàng không, sự bùng nổ của các thông tin và tài liệu du lịch mô tả, quảng cáo cho những vẻ đẹp của tự nhiên, cùng với ý thức trách nhiệm trước những nguy cơ suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự quan tâm sâu sắc của cộng đồng về vấn đề bảo tồn các loài và bảo vệ môi trường, DLST đã trở thành một hiện tượng thật sự có ý nghĩa ở cuối thế ky 20 và hi vọng là cả thé kỷ 21.
Một số khái niệm về du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một khái niệm tương đối mới và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái niệm rộng, được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau. Đối với một số người “Du lịch sinh thái” được hiểu đơn giản là sự kết hợp của hai từ ghép “Du lịch” và “Sinh thái”. Vốn đã quen thuộc từ lâu.
Tuy nhiên, đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm rằng du lịch sinh thái là một loại hình du lịch thiên nhiên. Như vậy, với cách tiếp cận này mọi hoạt động của du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biên, nghỉ núi. đều được hiểu là du lịch sinh thái. Ngày nay con người nhận thức được rằng không chỉ môi trường tự nhiên của động thực vật mà còn của cả con người và đang bị suy thoái một cách nghiêm trọng mà con người chính là thủ phạm gây ra.
Và con người đang dần quan tâm đến môi trường hơn, muốn bảo vệ bền vững tài nguyên thiên nhiên. Theo Cebllos — Lascurain (1987), đưa ra khái niệm về du lịch sinh thái tương đối đầy đủ bao hàm cả du lịch thiên nhiên lẫn du lịch văn hóa: “Du lịch sinh thái là du lịch vào những khu tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng khung cảnh và muông thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong các khu vực này”. Theo Allen (1993), đưa ra một định nghĩa đề cập sâu đến lĩnh vực họat động trách nhiệm của du khách, đó là: “Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. Du lịch sinh thái tao ra mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên hoang da cùng với ý thức giáo dục dé biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường.
Phát triển du lịch sinh thái sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), định nghĩa: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Đây cũng chính là khái niệm về du lịch sinh thái mà tác giả sử dụng trong đề tài này. Theo Bộ Nông nghiệp & PTNT (2007), Trên quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì “Du lịch sinh thái: Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai.
Cho đến nay, khái niệm du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về du lịch sinh thái, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về du lịch sinh thái đều thống nhất cao về nội dung của du lịch sinh thái ở ba điểm: Thứ nhất: Du lịch sinh thái phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ hay tương đối hoang sơ gắn với văn hoá bản địa. Thứ hai: Du lịch sinh thái có tính giáo dục môi trường cao và phải có trách nhiệm với môi trường. Thứ ba: Du lịch sinh thái phải mang lợi ích kinh tế trực tiếp cho cư dân địa phương và phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương.
Theo Phạm Hồng Long (2013), DLST là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hóa của cộng đồng địa phương, được thiết kế mang tính giáo dục môi trường cao nhằm mang lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phương và công tác bảo tồn, trong đó phát huy sự tham gia của cộng đồng địa phương. Các nguyên tắc, đặc trưng của du lịch sinh thái 1. Nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái Du lịch sinh thái phát triển dựa trên những nguyên tắc hướng tới sự phát triển bền vững. Những nguyên tắc được đảm bảo trong DLST không chỉ cho các nhà quy hoạch, quản lý, tô chức, điều hành du lịch mà còn cho cả hướng dẫn viên du lịch sinh thái, cho cả cộng đồng địa phương.
Phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan giải trí, khám phá tìm hiéu tự nhiên và con người. Hỗ trợ công tác bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng và tài nguyên ở các Vườn quốc gia, khu bảo tồn nói chung. Cu thé là DLST phải được tổ chức có tính khoa học, có tính giáo dục môi trường cao, đồng thời đem lại lợi nhuận tái phục vụ cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Hỗ trợ kinh tế địa phương, tạo thêm những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng dân địa phương, những người có quyền làm chủ cho sự phát triển và trong công tác hoạch định du lịch (Vũ Văn Quyết, 2011).
Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG và KBTTN và các Lâm phần thuộc quan ly của Công ty, cá nhân hay tô chức. Thì khi tổ chức hoạt động du lịch sinh thái phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Các hoạt động du lịch sinh thái không được làm ảnh hưởng đến diễn thế tự nhiên của các hệ sinh thái, đời sống tự nhiên của các loài động, thực vật hoang dã, cảnh quan thiên nhiên cũng như bản sắc văn hoá của cộng đồng dân cư ở địa phương tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Lợi nhuận từ các dịch vụ du lịch sinh thái được tái đầu tư cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Tỷ lệ tái đầu tư cho bảo tồn thực hiện theo quy định của nhà nước.
* Cộng đồng dân cu ở địa phương được tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động du lịch sinh thái dé nâng cao thu nhập cũng như nhận thức, trách nhiệm về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học. Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái Du lịch sinh thái, nếu được biểu thị với ý nghĩa thực của nó, bao gồm 5 đặc trưng cơ bản có quan hệ hỗ trợ nhau: (1) Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên: Đối tượng cua DLST là những khu vực hấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng về sinh học và kế cả những nét văn hoá bản địa đặc sắc. Đặc biệt, những khu tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn bởi các hoạt động của con người. Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn tự nhiên.
(2) Hỗ trợ bảo tồn, đảm bảo bền vững về sinh thái: Thách thức đối với DLST trong bất kỳ một quốc gia hay một khu vực nào là khai thác hợp lý tiềm năng cho du lịch, đảm bảo chất lượng sản phẩm mà lại không gây tác động có hại ngược trở lại môi trường. DLST có thể tạo ra nguồn thu cho việc quản lý bảo tồn nguồn tài nguyên ngoài những lợi ích về Văn hoá - Xã hội. Sự đóng góp về tài chính với một phan chi phí trong chuyền đi của du khách có thé giúp chi trả cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học. (3) DLST gắn liền với giáo dục môi trường (GDMT): Đặc điểm GDMT trong DLST là một yếu tô cơ bản thứ hai phân biệt nó với loại du lịch tự nhiên khác.
Giải thích và GDMT là những công cụ quan trọng trong việc tăng thêm những kinh nghiệm du lịch thú vị và nâng cao kiến thức và sự trân trọng môi trường cho du khách, dẫn đến hành động tích cực đối với bảo tồn, góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của hoạt động DLST trong những khu tự nhiên. (4) Mang lại lợi ích cho địa phương: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương và môi trường của khu vực. Cộng đồng địa phương chỉ có thể tham gia vào những công việc vận hành DLST, trên phương diện cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế, các dịch vụ, các trang thiết bị và các sản phẩm phục vụ khách. Những lợi ích này nhất thiết phải "nặng ký" hơn sự trả giá về môi trường và văn hoá - xã hội nảy sinh từ du lịch mà cộng đồng địa phương phải gánh chịu.