Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông thuộc địa bàn hai huyện Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình là hành lang sinh thái trọng yếu nối liền Vườn quốc gia Cúc Phương và Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Nơi đây sở hữu cảnh quan núi đá vôi kỳ vĩ, độ che phủ rừng trên 85% cùng không gian văn hóa bản địa đậm nét của đồng bào dân tộc Mường. Mặc dù sở hữu tài nguyên thiên nhiên và nhân văn vô cùng phong phú, hoạt động du lịch tại khu bảo tồn trong giai đoạn trước năm 2015 vẫn mang tính tự phát, manh mún và nhỏ lẻ. Tỷ lệ rò rỉ kinh tế còn lớn, các sản phẩm dịch vụ phụ trợ nghèo nàn, trong khi nhận thức và kỹ năng làm du lịch của cư dân sở tại còn nhiều hạn chế, dẫn đến nguy cơ xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học.

Trước bối cảnh năm 2002 được Liên Hợp Quốc chọn là Năm Quốc tế về Du lịch sinh thái và xu hướng du lịch có trách nhiệm bùng nổ, nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải quyết bài toán phát triển du lịch gắn liền với cải thiện sinh kế cộng đồng và gìn giữ tài nguyên sinh thái. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, từ đó xác lập hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian các xã vùng đệm và vùng lõi khu bảo tồn (điển hình như xã Tự Do), khảo sát du khách và cộng đồng người Mường với chuỗi số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2002 đến năm 2015 kết hợp điều tra điền dã trong 6 tháng đầu năm 2015. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học giúp nâng mức đóng góp của du lịch vào thu nhập hộ gia đình thêm khoảng 1,5 đến 2,5 triệu đồng mỗi tháng, đồng thời hướng tới mục tiêu giảm 40% đến 50% áp lực khai thác lâm sản trái phép lên hệ sinh thái rừng đặc dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết du lịch sinh thái của Hector Ceballos-Lascurain công bố năm 1987 và định nghĩa chuẩn hóa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), khẳng định du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đến các vùng tự nhiên nhằm bảo tồn môi trường và nâng cao phúc lợi cho người dân địa phương. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng khung lý thuyết du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng của Leith Sproule (1996) cùng quan điểm của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), nhấn mạnh vai trò làm chủ thực quyền của người dân trong chuỗi giá trị du lịch.

Để phân tích mối quan hệ giữa các bên liên quan, nghiên cứu ứng dụng mô hình tương tác 4 kịch bản của Shalini Singh và cộng sự (2003) gồm: Thắng - Thắng, Thắng - Thua, Thua - Thắng và Thua - Thua, nhằm xác định phương thức đưa cộng đồng chuyển dịch từ mức độ tham gia thụ động sang tham gia chủ động. Các khái niệm nền tảng được làm rõ bao gồm: Du lịch sinh thái theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, Du lịch dựa vào cộng đồng, Hệ thống 6 phân hạng quản lý khu bảo tồn theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 1994) và Lý thuyết sức chứa du lịch trên 5 khía cạnh cốt lõi: vật lý, sinh học, tâm lý, xã hội và năng lực quản lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập bài bản qua 3 chuyến điền dã thực địa từ tháng 02/2015 đến tháng 05/2015:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập và phân tích các báo cáo định kỳ, niên giám thống kê từ năm 2002 đến năm 2015 của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, Hạt Kiểm lâm, Chi cục Lâm nghiệp và Ủy ban nhân dân hai huyện Lạc Sơn, Tân Lạc.
  • Dữ liệu sơ cấp và phương pháp chọn mẫu: Tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu. Cỡ mẫu khảo sát gồm 80 phiếu phát ra cho cộng đồng người Mường địa phương (thu về 60 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 75%) và 150 phiếu phát ra cho khách du lịch trong nước và quốc tế (thu về 80 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 53,3%). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm hộ trực tiếp làm du lịch, hộ làm nông nghiệp thuần túy và du khách trải nghiệm thực tế.
  • Phương pháp chuyên gia và phân tích: Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 10 chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực du lịch sinh thái, quy hoạch bảo tồn và cán bộ quản lý địa phương. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính và ma trận SWOT. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đối chiếu chéo giữa lý thuyết học thuật và thực tiễn sinh kế, lượng hóa mức độ sẵn sàng tham gia của cư dân cũng như đo lường chính xác các chỉ số hài lòng của du khách tại điểm đến.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực tế mang lại 4 phát hiện quan trọng về hoạt động du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông:

  • Tiềm năng sinh thái và văn hóa vượt trội nhưng sản phẩm còn đơn điệu: Khu bảo tồn sở hữu hệ sinh thái phong phú với hàng trăm loài thực vật bậc cao và động vật hoang dã quý hiếm, kết hợp cùng các bản làng người Mường cổ kính. Tuy nhiên, hơn 80% sản phẩm du lịch cung cấp cho khách chỉ dừng lại ở mức tham quan cảnh quan tự nhiên thô sơ và trải nghiệm đi bộ ngắn ngày, thiếu các điểm nhấn trải nghiệm chuyên sâu và dịch vụ giải trí phụ trợ.
  • Cộng đồng có thái độ tích cực nhưng thiếu hụt kỹ năng chuyên môn: Kết quả khảo sát ghi nhận trên 70% số hộ dân địa phương bày tỏ thái độ sẵn sàng tham gia cung cấp các dịch vụ lưu trú homestay, ẩm thực truyền thống và dẫn đường trekking. Dẫu vậy, tỷ lệ lao động địa phương được đào tạo bài bản về nghiệp vụ du lịch, kỹ năng sơ cấp cứu và ngoại ngữ giao tiếp cơ bản chiếm chưa đầy 15%, gây trở ngại lớn cho việc nâng cao chất lượng phục vụ.
  • Tác động kinh tế bước đầu rõ nét nhưng tính lan tỏa chưa cao: Thống kê trong 4 tháng đầu năm 2015 (từ 01/01/2015 đến 30/04/2015) cho thấy các hộ gia đình tham gia mô hình du lịch cộng đồng tại xã Tự Do có mức thu nhập tăng thêm trung bình từ 1,2 đến 2,5 triệu đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, nguồn thu này chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ hộ dân điểm chỉ định, chuỗi cung ứng dịch vụ tại chỗ chưa phát triển khiến tỷ lệ thất thoát nguồn thu ra ngoài cộng đồng ước tính vẫn ở mức trên 45%.
  • Hạ tầng cơ sở kỹ thuật là điểm nghẽn lớn nhất: Đánh giá mức độ hài lòng chung của du khách đạt khoảng 68%. Điểm hạn chế bị phản ánh nhiều nhất là hệ thống giao thông tiếp cận hiểm trở, khi có hơn 60% du khách phàn nàn về chất lượng đường giao thông liên thôn bản gập ghềnh và sự thiếu vắng của hệ thống biển báo, trạm thông tin sinh thái chuẩn hóa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan là mô hình quản lý du lịch cộng đồng tại địa phương phụ thuộc phần lớn vào các dự án tài trợ ngắn hạn (tiêu biểu như dự án do tổ chức FPSC Tây Ban Nha hỗ trợ), thiếu cơ chế tài chính tự vận hành bền vững cho Chi hội Du lịch sinh thái cộng đồng (CBET-A). Sự phối hợp giữa Ban quản lý khu bảo tồn, chính quyền địa phương và các đơn vị lữ hành tư nhân còn mang tính thời điểm, chưa hình thành liên minh điểm đến chặt chẽ.

Khi so sánh với mô hình bản Huay Hee tại Vườn quốc gia Mã Hồng Sơn (Thái Lan) với 127 cư dân dân tộc Karen hay mô hình đồng quản lý tại Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm rộng 235 km2, điểm khác biệt lớn là Ngọc Sơn - Ngổ Luông chưa xây dựng được cơ chế trích lập quỹ tái đầu tư cộng đồng minh bạch từ doanh thu vé tham quan.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột thể hiện "Mức độ hài lòng của du khách theo thang đo 5 điểm đối với từng tiêu chí dịch vụ" (gồm lưu trú, ăn uống, vệ sinh môi trường, thái độ phục vụ và hạ tầng giao thông) cùng bảng đối chiếu "Cơ cấu nguồn thu nhập của các hộ dân trước và sau khi tham gia hoạt động du lịch sinh thái". Những phân tích này khẳng định rằng việc nâng tầm mô hình du lịch sinh thái tại đây đòi hỏi bước chuyển đổi căn bản từ kịch bản Thua - Thắng sang mối quan hệ Thắng - Thắng bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm và bài học kinh nghiệm quốc tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể với mục tiêu, lộ trình và chủ thể thực hiện rõ ràng:

  • Kiện toàn cơ chế chính sách và phân cấp quản lý: Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cùng Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông cần ban hành Quy chế đồng quản lý tài nguyên du lịch trong quý 4 năm 2016. Cần chính thức công nhận tư cách pháp nhân và trao quyền tự chủ vận hành cho Chi hội Du lịch sinh thái cộng đồng (CBET-A), đồng thời quy định tỷ lệ trích nộp bắt buộc từ 15% đến 20% doanh thu dịch vụ du lịch vào Quỹ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng xã Tự Do.
  • Nâng cấp hạ tầng giao thông và cơ sở vật chất kỹ thuật: Sở Giao thông Vận tải tỉnh Hòa Bình phối hợp với Ủy ban nhân dân hai huyện Tân Lạc và Lạc Sơn bố trí nguồn vốn đầu tư công nâng cấp 25 km tuyến đường giao thông huyết mạch kết nối các điểm du lịch trọng điểm trong giai đoạn 2016 - 2018. Lắp đặt đồng bộ hệ thống 50 biển chỉ dẫn sinh thái song ngữ, xây dựng 3 trạm dừng chân thân thiện với môi trường và hỗ trợ 20 hộ dân cải tạo hệ thống nhà vệ sinh đạt chuẩn du lịch sinh thái.
  • Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng: Ban quản lý khu bảo tồn chủ trì phối hợp với các trường đại học chuyên ngành mở 4 khóa tập huấn mỗi năm cho 120 lượt người dân địa phương. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng nấu ăn an toàn vệ sinh thực phẩm, kỹ năng hướng dẫn viên diễn giải môi trường, sơ cấp cứu và tiếng Anh giao tiếp cơ bản, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động bản địa qua đào tạo đạt trên 60% vào năm 2020.
  • Đa dạng hóa sản phẩm và đẩy mạnh xúc tiến thị trường: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Hòa Bình liên kết chặt chẽ với các công ty lữ hành chuyên tour sinh thái xây dựng 3 dòng sản phẩm chủ lực: Tuyến đi bộ xuyên rừng khám phá đa dạng sinh học, tour tìm hiểu văn hóa bản Mường cổ và tuyến thể thao mạo hiểm thác Mu. Triển khai các kênh tiếp thị số hóa nhằm thu hút phân khúc du khách có trách nhiệm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng lượng khách ổn định từ 15% đến 20% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các khu rừng đặc dụng: Cung cấp khung phương pháp luận và công cụ đánh giá sức chứa, giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng quy chế đồng quản lý tài nguyên, quy hoạch vùng đệm sinh thái và nhân rộng mô hình du lịch bền vững cho hơn 30 khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch sinh thái: Cung cấp bức tranh chi tiết về thị hiếu, mức độ chi trả và kỳ vọng của khách du lịch nội địa lẫn quốc tế, giúp doanh nghiệp thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa bản địa độc đáo, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và giảm thiểu rủi ro đầu tư hạ tầng sinh thái.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Môi trường: Là tài liệu học thuật giá trị với hơn 50 nguồn tài liệu tham khảo chuyên sâu trong và ngoài nước, cung cấp case study thực tế điển hình về phương pháp điều tra xã hội học và ứng dụng ma trận SWOT trong nghiên cứu du lịch cộng đồng.
  • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức phát triển quốc tế: Tham khảo kinh nghiệm thực tế về can thiệp sinh kế, hỗ trợ kỹ thuật và phương pháp nâng cao năng lực tự quản cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao khi thực hiện các dự án xóa đói giảm nghèo gắn với bảo tồn thiên nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông có những giá trị tài nguyên nổi bật nào để phát triển du lịch sinh thái?

Khu bảo tồn sở hữu vị trí địa lý đắc địa kết nối hai khu sinh thái Cúc Phương và Pù Luông, có diện tích rừng tự nhiên rộng lớn với độ che phủ trên 85% và hệ động thực vật đặc hữu quý hiếm trong Sách Đỏ. Cùng với đó là không gian văn hóa bản địa nguyên sơ của người Mường với các nếp nhà sàn truyền thống, ẩm thực độc đáo và tri thức dân gian phong phú.

Cộng đồng dân cư địa phương đóng vai trò gì trong mô hình phát triển du lịch tại khu bảo tồn?

Cộng đồng người Mường đóng vai trò kép vừa là chủ thể sáng tạo, cung cấp dịch vụ trực tiếp như homestay, ẩm thực, hướng dẫn viên, vừa là lực lượng nòng cốt tuần tra bảo vệ rừng. Số liệu khảo sát thực địa chứng minh trên 70% hộ dân sẵn sàng tham gia các tổ hợp dịch vụ du lịch nhằm cải thiện sinh kế và giảm phụ thuộc vào việc khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã.

Những rào cản lớn nhất đối với phát triển du lịch cộng đồng tại Ngọc Sơn - Ngổ Luông giai đoạn nghiên cứu là gì?

Hai rào cản lớn nhất được xác định là hạ tầng giao thông kết nối liên xã còn trắc trở (hơn 60% du khách phản ánh khó khăn trong di chuyển) và năng lực nghiệp vụ của người dân còn yếu (dưới 15% lao động được đào tạo bài bản). Ngoài ra, sự thiếu hụt nguồn vốn vay ưu đãi ban đầu cũng cản trở người dân nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ du khách.

Làm thế nào để kiểm soát tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường và đa dạng sinh học?

Luận văn khuyến nghị áp dụng nghiêm ngặt khung phân tích sức chứa du lịch trên 5 phương diện, kiểm soát số lượng khách trên mỗi tuyến trekking không vượt quá 50 khách mỗi ngày tại các phân khu nghiêm ngặt. Đồng thời, cần trích lập từ 15% đến 20% doanh thu dịch vụ cho quỹ bảo vệ môi trường, thu gom xử lý triệt để rác thải sinh hoạt và lắp đặt biển báo giáo dục môi trường.

Mô hình du lịch sinh thái cộng đồng tại đây có thể nhân rộng sang các địa phương khác không?

Mô hình này hoàn toàn có khả năng chuyển giao và nhân rộng cho hơn 160 khu rừng đặc dụng và vườn quốc gia trên toàn quốc. Điều kiện tiên quyết là phải vận dụng linh hoạt cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, phát huy vai trò tự quản của Chi hội du lịch địa phương và duy trì sự hợp tác 3 bên giữa cơ quan kiểm lâm, chính quyền xã và doanh nghiệp lữ hành.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc khung lý thuyết về du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, phân tích rõ mối quan hệ tương hỗ giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế vùng đệm.
  • Đánh giá toàn diện tiềm năng và thực trạng du lịch tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông thông qua khảo sát thực địa 140 mẫu điều tra hợp lệ của cư dân và du khách.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn cố hữu về cơ sở hạ tầng giao thông, tính đơn điệu của sản phẩm và tỷ lệ nhân lực qua đào tạo du lịch dưới mức 15%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi cao, bao quát từ thể chế đồng quản lý, đầu tư 25 km đường kết nối đến đào tạo chuyên sâu cho 120 lượt lao động bản địa.
  • Khẳng định mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng chính là chìa khóa phát triển bền vững, vừa gia tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc Mường vừa bảo vệ vẹn nguyên tài nguyên thiên nhiên quý báu.

Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2016 - 2018 cần tập trung hoàn thiện cơ chế thể chế và nâng cấp hạ tầng thiết yếu, tiếp đó giai đoạn 2018 - 2020 đẩy mạnh xúc tiến quảng bá số hóa và đa dạng hóa sản phẩm. Các nhà hoạch định chính sách, ban quản lý khu bảo tồn và các doanh nghiệp lữ hành hãy phối hợp chặt chẽ, ứng dụng ngay các phát hiện và khuyến nghị của luận văn vào thực tiễn quản trị nhằm đưa du lịch sinh thái Ngọc Sơn - Ngổ Luông phát triển xứng tầm tiềm năng.