phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn có 3 ch- ong, 8 tiết. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Tiềm năng và thực trang phát triển du lịch Quảng Ninh trong thời gian qua. Ph- ong h-ớng và giải pháp phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Quảng Ninh những năm tới.
Ch- ơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỤC TIEN VỀ PHÁT TRIEN DU LICH TRONG DIEU KIEN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 1. Du lịch và dịch vụ du lịch 1.1 Du lịch * Quan niệm về du lịch Ngày nay, trên phạm vi toàn cầu du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu, nó là một hoạt động phổ biến trong đời sống kinh tế, xã hội và du lịch ngày càng có tốc độ phát triển cao. Du lịch theo tiếng Pháp là Le Tourisme (có nguồn gốc từ danh từ: Le Tour).
Le Tour có nghĩa đen là sự lữ hành đ- ợc kết thúc bằng việc quay về điểm xuất phát ban đầu. Nếu nh- xét về mặt ngữ nghĩa thì khái niệm về du lịch này ch-a rõ vì nó ch-a phản ánh đ-ợc đầy đủ mức độ, ý nghĩa và bản chất của hiện t- ong du lịch. Yếu tố cơ bản của du lich là sự ra đi hay lữ hành; Nó xuất phát từ nhu cầu nội tại của con ng- ời. Hiện nay, trên thế giới vẫn còn có nhiều dân tộc ch-a định c-, họ sống du c-, điều này có thể dẫn đến hiểu nhầm du khách; họ luôn luôn "lữ hành".
Song đối với các dân tộc du c- không phải là du khách, và đây không thể có khái niệm du lịch. Muốn có du lịch, điều tr-ớc tiên là phải định c-, tức là du lịch chỉ đ-ợc tính đối với ng- di có c- trú ổn định th- ng xuyên ở một nơi nào đó của một quốc gia. Sau chuyến lữ hành du khách lại chuyển về nơi sống th- ờng xuyên của mình. Thời gian ra đi của du khách đ-ợc tính bằng thời gian du khách rời khỏi nơi c- trú tới điểm dừng chân nh- ng phải nghỉ lại qua đêm ở nơi đó và mua các loại dịch vụ ở nơi đến.
Song đến một lúc nào đó du khách phải quay trở về nơi c- trú th-ờng xuyên của mình (Tr- 6c đây, thời gian ra đi của du khách đ-ợc tính trong khoảng không ít hơn 24 giờ và không nhiều quá 3 tháng; ngày nay, thời gian ra đi của du khách có thể ít hơn 24 giờ nh-ng đòi hỏi du khách phải nghỉ qua đêm và mua các loại dịch vụ của nơi đến). Tr- 6c kia, ng- ời d- gc coi là du khách phải là ng- ời chỉ thuần túy đi nghỉ ngơi hoặc là d-ðống bệnh. Tuy nhiên, ngày nay du khách đã bao hàm cả những ng- ời rời khỏi nơi c- trú đến làm việc ở nơi đến (tạo ra thu nhập), tức là du khách có thể kết hợp với công việc nh-: hội họp, tìm hiểu thị tr- dng, giao dịch, nghiên cứu, học tập, thể thao, tôn giáo. trong chuyến đi du lịch của mình.
Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, khái niệm du lịch ngày một đ- ợc hoàn thiện dân. Mới đầu du lịch đ- gc hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm ng- ời rời khỏi nơi c- trú th-ờng xuyên của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng khác xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh. Ngày nay, du lịch bao gồm cả việc nghỉ ngơi, giải trí kết hợp với hoạt động kinh tế, thương mại. Do sự phát triển của kinh tế xã hội cùng với sự gia tăng của dân số và sự phát triển nhanh chóng của giao thông vận tải, du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Do phạm vi và góc độ nghiên cứu đa dạng, cho nên trên thế giới cũng nh- ở Việt Nam, khái niệm về du lich đ-ợc dé cập tới d-ới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau. Trên thế giới: Theo các nhà nghiên cứu của tr-ờng Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc): "Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con ng- di và việc l-u trú của họ ngoài nơi ở th- ờng xuyên với nhiều mục đích của con ng-ời và việc l-u trú của họ ngoài nơi ở th-ờng xuyên với nhiều mục đích khác nhau, ngoại trừ mục đích hành nghề và viếng thăm có tổ chức th- ờng kỳ" [10, tr. Theo nhà nghiên cứu Michael Coltman cho rằng: "Du lịch là một sự kết hợp và t- ơng tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du lịch, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, c- dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch" [10, tr 18]. Hội nghị Quốc tế thống kê du lịch tại Canada (tháng 6 năm 1991) đ-a ra định nghĩa: "Du lịch là hoạt động của con ng- ời đi tới một nơi ngoài môi tr- ờng th-ờng xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã đ- ợc các tổ chức du lịch quy định tr- ớc, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” [10, tr.
Theo Tuyên ngôn Manina về du lịch (1980) đã nêu: "Du lịch đ-ợc hiểu nh- hoạt động chủ yếu trong đời sống của các quốc gia do hiệu quả trực tiếp của nó trên các lĩnh vực xã hội, văn hóa, giáo dục, kinh tế của các quốc gia và trong quan hệ kinh tế trên thế giới. Sự phát triển của du lịch gắn với sự phát triển của xã hội, kinh tế của các quốc gia và phụ thuộc vào việc con ng- ời tham gia vào việc nghỉ ngơi (có sáng tạo) và kỳ nghỉ, vào tự do du lịch; trong khuôn khổ thời gian tự do và thời gian nhàn rỗi mà du lịch nhấn mạnh tính nhân văn sâu sac". 6 Viét Nam: Theo định nghĩa Bách khoa về Du lich (Viện hàn lâm): "Du lich là tập hợp các hoạt động tích cực của con ng- di nhằm thực hiện một dạng hành trình lạ một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch, du lịch là một cuộc hành trình mà một bên là ng- ời khởi hành với mục đích đã đ- ợc chọn tr- 6c và một bên là những công cụ làm thỏa mãn nhu cầu của ho". Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Du lịch là một dạng nghỉ d- ống sức, tham quan tích cực của con ng-ời ngoài nơi c- trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải tri, xem danh lam thắng cảnh, di tích lich sử, công trình văn hóa, nghệ thuat.
Theo Từ điển Tiếng Việt: "Du lịch là đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi minh 6". Theo Luật Du lich Việt Nam (2005): "Du lich là hoạt động của con ng- di nơi c- trú th- dng xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ d- ống trong một khoảng thời gian nhất định". Từ những quan niệm trên, ta thấy, có quan niệm coi du lịch là nhân tố của sự tăng tr-ởng và phát triển kinh tế; có quan niệm coi du lịch là kết quả tất yếu của sự phát triển kinh tế, xã hội; có quan niệm tác giả xuất phát từ đặc điểm di động của khách du lịch. Tất cả những quan niệm trên chưa đi sâu vào bản chất của du lịch.
Xuất phát từ bản chất của du lịch, ta có thể đ-a ra một định nghĩa tổng thể về du lịch nh- sau: Du lịch là hoạt động của con ng- di ngoài nơi c- trú th-ờng xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ d- ng trong một khoảng thời gian nhất định. Qua quan niệm trên đây, chúng ta thấy việc phát triển du lịch ở Việt Nam là phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với đ- ờng lói phát triển kinh tế của Đảng va Nhà n- ớc ta, là điều kiện để khai thác, sử dụng hiệu quả tiềm năng tài nguyên du lịch quý báu của đất n- ớc, cùng với các nguồn lực khác đ- a đất n- ớc ta phát triển, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. * Bản chất của Du lịch: + Xét từ góc độ nhu câu của khách du lịch: Từ x- a đến nay, hau hết khách du lịch là những ng- ời đã tích lũy đ- gc một số tiền nhất định (hoặc đ-ợc mời đi du lịch thì số tiền đã đ-ợc ng-ời khác lo liệu), họ dùng thời gian nhàn rỗi tiến hành một chuyến du ngoạn để th- ởng thức những danh lam thắng cảnh, vẻ đẹp của những di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội, phong tục tập quá, thiên nhiên xanh. hoặc qua đó gắn liền với nghỉ dưỡng, chữa bệnh, hoạt động thể thao, tiếp thị.
nhưng không phải vì mục đích sinh lời. Như vậy nhu cầu đích thực của du khách là du ngoạn. Nói đến du ngoạn là du ngoạn thiên nhiên nh- bãi biển, vịnh biển, núi rừng, sông ngòi, cao nguyên, hang động. và các "danh thắng" nhân tạo như di tích lịch sử, di tích văn hoá: đền, đình, chùa, nhà thờ, phố cổ, miếu mạo, mộ cổ, thành quách, di chỉ khảo cổ, làng nghề truyền thống, lễ hội,.
Nói tóm lại, xét tứ góc độ nhu cầu của khách du lịch, bản chất của du lịch là du ngoạn để h- ởng những giá trị vật chất và tinh than mang tính văn hóa cao, khác lạ với quê h- ơng họ. Để hiểu d- gc bản chất của du lịch xét theo góc độ nhu cầu của khách du lịch, chúng ta hãy nhìn vào nội dung ch-ơng trình quảng cáo du lịch của các n-ớc. Hầu hết nội dung của các ch- ong trình ấy là những di sản văn hóa cảnh quan thiên nhiên. Ở Việt Nam ta cũng vậy, trong các tờ quảng cáo, các tờ gấp của các công ty du lịch, các hãng lữ hành đều mời chào khách hàng những nội dung này.
Bất kỳ một khách du lịch nào (kể cả th- ơng nhân, chính khách, nhà khoa học bỏ thời gian để tiến hành một chuyến du lịch ngắn ngày trong chuyến công du của mình) cũng muốn đ- ợc đến các điểm,các tuyến du lịch phản ánh bề dày văn hóa hay thiên nhiên xanh nơi họ đến. Khách du lịch đến một vùng, một nơi nào đó không phải họ đi tìm cái vốn có của họ, cái đã quen với họ.