BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG THƯƠNG MẠI TÀI TRỢ CHÍNH Công ty Cổ phần tập đoàn Trí tuệ Việt Tập đoàn tài chính SVA CÁC ĐƠN VỊ ĐỒNG TÀI TRỢ Ngân hàng đầu tư và Khách sạn Saigontourane Công ty TNHH Tổng công ty Cổ phần Công ty AXA phát triển Việt Nam International Delta bảo hiểm Bưu Điện Việt Nam chi nhánh Cầu Giấy Công ty Công ty Đầu tư Công ty Công ty Cổ phần Công ty Tổng Công ty Cảng Nhật Linh 1 Tieu luan và Xây dựng hạ Công nghê tin học Xây dựng và Điện toán và Hàng không Miền Trung Đà Nẵng tầng Việt Sin Phương Tùng thương mại 591 truyền số liệu VDC - Cảng Hàng không Quốc tế Đà Nẵng DELTA INTERNATIONAL CO., LTD Our core business: o Inland transportation o Customs brokerage o Warehousing Our operations located at o Ha Noi o Ho Chi Minh o Binh Duong o Hai Phong o Bac Ninh o Hai Duong Fore more information, please refer to http://delta.vn/ 2 Tieu luan QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN GÓP PHẦN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY PGS. Bùi Xuân Nhàn Trường Đại học Thương mại Tóm tắt Hiện nay, có trên 70% dân số nước ta sống ở khu vực nông thôn với diện tích khoảng 92% lãnh thổ Việt Nam, bao gồm đồi núi, rừng, đất trồng trọt và canh tác và người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp. Vấn đề việc làm và tạo thêm thu nhập cho người dân ở nông thôn có ảnh hưởng lớn tới công cuộc xóa đói, giảm nghèo và xây dựng các mô hình nông thôn mới. Khu vực nông thôn Việt Nam, bao gồm cả những thị trấn nhỏ phục vụ vùng nông thôn là nơi có nguồn tài nguyên du lịch phong phú.
Phát triển du lịch nông thôn từ lâu đã được nhiều nước khai thác có hiệu quả. Đối với nước ta, ngành du lịch nói chung và du lịch nông thôn nói riêng thời gian qua đã có những bước phát triẻn khá mạnh. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch ở nhiều vùng nông thôn nước ta còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch và đôi khi còn mang tính phong trào. Quản lý nhà nước với phát triển du lịch nông thôn còn bộc lộ nhiều yếu kém cần có các chính sách và các giải pháp cụ thể, phù hợp để góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, nhất là khi toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, khi mà khu vực nông thôn truyền thống ngày càng thu hẹp ở các nước phát triển, khi đó nhu cầu du lịch đến các vùng nông thôn còn giữ được bản sắc riêng ở các nước như nước ta với du khách quốc tế ngày càng tăng.
Bài viết trên cơ sở phân tích bài học kinh nghiệm ở một số quốc gia và thực trạng quản lý phát triển du lịch nông thôn ở nước ta thời gian qua và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý để phát triển du lịch nông thôn nước ta đi đúng hướng thời gian tới. Từ khóa: Nông thôn, du lịch, quản lý ĐÁNH GIÁ NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI TẠI ĐÀ NẴNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ - TIẾP CẬN TỪ GÓC NHÌN CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TS. Phùng Tấn Viết – UBND Thành phố Đà Nẵng ThS. Trần Thị Hòa – Trường Cao đẳng Thương mại Tóm tắt Tháng 01 năm 2009, Việt Nam chính thức mở cửa lĩnh vực phân phối theo cam kết của WTO.
Đây là cơ hội để các đô thị nước ta đẩy mạnh việc phát triển hệ thống phân phối hiện đại, Thành phố Đà Nẵng cũng hòa vào bối cảnh chung đó; và đi cùng với đó là hệ thống quản lý nhà nước về thương mại tại địa phương. Để đánh giá các nội dung quản lý nhà nước về thương mại tại Đà Nẵng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chúng tôi đã khảo sát 110 doanh nghiệp thương mại trên các nội dung: Công tác xây dựng hành lang pháp lý về thương mại; công tác định hướng phát triển thương mại; công tác hỗ trợ, tạo điều kiện thương mại phát triển; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về thương mại; và công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành thương mại. Kết quả nghiên cứu đã phác họa một bức tranh toàn cảnh đối với công tác QLNN về 3 Tieu luan thương mại tại Đà Nẵng, chỉ ra những thành công và hạn chế trong công tác quản lý, dưới góc nhìn của các doanh nghiệp thương mại. Bài viết sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và sử dụng phần mềm SPSS để đáng giá nội dung quản lý nhà nước về thương mại tại Đà Nẵng.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thương mại tại địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập. Từ khoá: Quản lý nhà nước về thương mại, doanh nghiệp thương mại, công tác quản lý… TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM PGS.TS Phạm Thị Tuệ Trường Đại học Thương mại Tóm tắt Tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước không phải là mô hình xa lạ mà nó đã ra đời lần đầu tiên vào khoảng đầu thế kỷ thứ 19 tại một số nước châu Âu (chủ yếu là Tây Âu) trong giai đoạn cách mạng công nghiệp và sau đó có nhiều nước sử dụng tập đoàn kinh tế như một công cụ nhằm định hướng phát triển nền kinh tế hoặc đảm bảo an ninh quốc phòng. Mặc dù ra đời trong những hoàn cảnh rất khác nhau nhưng tập đoàn kinh tế nhà nước đã đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, ví dụ như ở Nhật bản trong nửa cuối thế kỷ 20 các tập đoàn kinh tế nhà nước được coi là các trụ cột của nền kinh tế hay ở Hàn quốc các tập doàn kinh tế đóng vai trò then chốt trong cải thiện cán cân thương mại trong những năm 1980. Trên thực tế có không ít tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động có hiệu quả cao, đó là Posco, công ty sản xuất thép khổng lồ của Hàn quốc và Singapore Airlines một trong những hãng hàng không tốt nhất thế giới hoặc các tập đoàn trong ngành công nghiệp nặng từ lĩnh vực hóa dầu đến sắt thép của Đài loan đều là những doanh nghiệp nhà nước làm ăn hiệu quả.
Điều đó chứng minh một thực tế không phải nguồn gốc sở hữu gây nên sự kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, có chăng là do chưa có cơ chế quản lý phù hợp để doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoạt động độc lập như doanh nghiệp tư nhân. Vì vậy nội dung bài viết so sánh mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước trên thế giới và tại Việt nam trên các khía cạnh (về bản chất, về quá trình hình thành, về cơ cấu tổ chức, về cơ chế quản lý) để thấy những hạn chế trong tổ chức quản lý của tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt nam và từ đó đưa ra một số định hướng giải pháp để tăng cường hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt nam Từ khoá: Tập đoàn kinh tế; Tập đoàn kinh tế nhà nước; Quản lý tập đoàn kinh tế. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ ThS. Nguyễn Bá Hiền ThS.
Trần Thị Hòa 4 Tieu luan Trường Cao đẳng Thương mại Đà Nẵng Tóm tắt Năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Đây là cơ hội để các đô thị nước ta đẩy mạnh việc phát triển kinh tế. Thành phố Đà Nẵng cũng hòa vào bối cảnh chung đó, và phát triển bền vững kinh tế địa phương là một yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập. Trong 10 năm qua Thành phố Đà Nẵng đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu thế hội nhập.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ngoạn mục, bình quân 11,73% trong giai đoạn 2001-2010. Tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong nhiều năm đã góp phần giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thiếu bền vững, đóng góp cho tăng trưởng chủ yếu vẫn là dựa trên sự gia tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên thô và sức lao động giá rẻ mà ít chú ý đến công nghệ và môi trường. Mặt khác, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố vẫn còn quá khiêm tốn so với các thành phố lớn trong cả nước.
Bài viết này đi sâu nghiên cứu thực trạng tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế Thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, từ đó đặt ra vấn đề cấp thiết cho các nhà hoạch định chính sách của thành phố. Bài viết sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp và để đáng giá thực trạng phát triển kinh tế của Thành phố Đà Nẵng. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững kinh tế Thành phố Đà Nẵng trong điều kiện hội nhập. Từ khoá của bài viết: Phát triển bền vững, kinh tế.
Abstract KIỂM ĐỊNH MỨC ĐỘ TƯƠNG QUAN GIỮA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN , CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA VÀ ĐỊA PHƯƠNG PGS.TS Nguyễn Văn Minh Trường Đại học Thương mại Tóm tắt Nhiều nghiên cứu cho thấy Công nghệ thông tin (CNTT) và Chính phủ điện tử (CPĐT) là các nhân tố nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) của các quốc gia, các địa phương, các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp. Bài viết này, thông qua việc xử lý trên máy tính các số liệu thu thập được từ các báo cáo quốc tế và trong nước về NLCT, CNTT và CPĐT, kiểm định và đưa ra một số kết luận và lý giải về tương quan giữa CNTT, CPĐT và NLCT quốc gia của 139 quốc gia trên thế giới và NLCT địa phương của 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Từ khóa: Công nghệ thông tin, chính phủ điện tử, năng suất, tăng trưởng, năng lực cạnh tranh, tương quan. 5 Tieu luan TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TS.