Chương 1. Công giáo và văn hóa Việt Nam. Lễ hội Công giáo. Định hướng phát triển du lịch lễ hội Công giáo CHƢƠNG 1 CÔNG GIÁO VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM 1.Quá trình hội nhập văn hóa Kitô giáo với các nền văn hóa thế giới 1.1 Tại một số nước Châu Âu Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa được gọi chung là Kitô giáo.
nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v Ki tô giáo bị phân chia thành 3 nhánh chính Công giáo, Chính Thống giáo và Tin lành. Hội nhập văn hóa Ki Tô giáo chính là các hình thức truyền bá phúc âm, thực hiện nghi lễ và lối sống đạo sao cho phù hợp với đặc thù văn hóa một cộng đồng người, văn hóa một quốc gia, trên cơ sở đó mà sản sinh ra những giá trị văn hóa mới bồi trúc cho văn hóa cộng đồng người, văn hóa một quốc gia và cả văn hóa Ki Tô giáo, nhưng cả hai đều không mất đi căn tính của mình thì trong quá trình phát triển Ki Tô giáo đã có những lần hội nhập văn hóa để thích ứng ngay ở vùng đất mà Ki Tô giáo phát sinh, phát triển. Đồng thời trong quá trình truyền giáo qua các châu lục, quá trình hội nhập có diễn ra dù là mức độ có chật hẹp hoặc kết quả nhỏ bé. Ki Tô giáo phát sinh từ miền đất Tiểu Á, từ Tiểu Á, Ki Tô giáo được truyền bá, phát triển ra các nước thuộc đế chế La Mã rộng hơn thời cổ đại.
Thời kỳ đầu Ki Tô giáo mang sắc thái văn hóa Châu Á (vì Tiểu Á thuộc về Châu Á) nên rất gần gũi với các tôn giáo châu Á dù tiểu Á thuộc sự cai trị của đế chế Rôma. Việc truyền giáo của đạo Ki Tô ba thế kỷ đầu gặp nhiều khó khăn vì bị chính quyến cấm đoán và bách hại. Phải từ thế kỷ thứ IV về sau khi mà Constantinus I, Hoàng đế Rôma bỏ lệnh cấm đạo, lúc đó Ki Tô giáo mới có điều kiện phát triển. Nhưng ngay cả thời kỳ bị cấm đoán trong quá trình truyền giáo, phát triển đạo trong đế chế La Mã rộng lớn với một nền văn hóa phát triển rực rỡ, Ki Tô giáo đã được “ đắm mình” trong đó để “ chịu phép rửa” của nền văn hóa này.
Trong một công trình nghiên cứu có tựa đề: Thích ứng và hội nhập văn hóa trong truyền giáo, tác giả Nguyễn Chính Kết có dành một phần để trình bày việc hội nhập văn hóa tại Tây Phương. Tìm danh từ để chỉ Thiên Chúa: Để thích ứng với người Âu châu các giáo phụ đã không dùng những từ Do Thái như ELSHADDAI hay YAHVEH… để chỉ Thiên Chúa mà dùng các từ THEOS,DEUS hay DIEU vốn là chỉ các từ chỉ các vị thần người Âu châu ( Zeus, Jupiter, Hercule…). Các từ này vốn không có nghĩa là Thiên Chúa như chúng ta hiểu ngày nay. Đây chính là sự thích ứng và hội nhập.
Thích ứng ngày lễ giáng sinh: Ngày 25 tháng 12 là ngày người Âu châu thờ thần mặt trời, Ki Tô giáo chọn ngày này là ngày sinh của chúa Giêsu. Khi mọi người ăn mừng thần mặt trời thì người Ki Tô hữu ăn mừng chúa ra đời. Theo cách hội nhập như vậy, ngày đầu tuần người Âu châu kính thần Mặt Trời thì Ki Tô giáo gọi đó là Ngày của Chúa, Chúa Nhật. Hội nhập văn hóa trong y phục: Y phục mà hàng giáo phẩm mặc trong phụng vụ là mô phỏng y phục của người Rôma, loại y phục xuất phát từ nền văn hóa của dân chúng, để quen thuộc gần gũi với họ.
Như vậy, truyền giáo phát triển trong đế quốc La Mã, hội nhập với nền văn hóa này, Ki Tô giáo đã “ Bỏ bộ áo văn hóa Do Thái” – Từ của tác giả Nguyễn Chính Kết. Tác giả Nguyễn Chính Kết cho rằng sau khi cởi bỏ bộ áo văn hóa Do Thái, Ki Tô giáo đã mặc lấy bộ áo văn hóa Âu châu. Một giai đoạn hội nhập khác của Ki Tô giáo, đó là hội nhập với văn hóa Âu châu, cụ thể hơn là Tây Âu. Nghi lễ Rôma được Công đồng Trentô (1945-1947) cho xuất bản có sự kế thừa những phụng vụ cổ kính như Milan, Lyon, Đa Minh…nhưng đặc biệt là kế thừa những nghi lễ của nước Pháp và Tây Ban Nha những quốc gia Tây Âu 1.2 Sự thích ứng văn hóa của một số giáo sĩ Công giáo tại một số nước Châu Á 1.1 Nobili ở Ấn Độ Thừa sai Robert de Nobili (1577-1656), dòng tên đến Ấn Độ năm 1605 và Mandure (miền Nam).
Hện diện ở Ấn Độ một thời gian dài, Nobili đã học tiếng Tamul và tiếng Phạn. Để hòa nhập với nền văn hóa bản địa, Nobili ăn mặc như một sa môn theo mẫu các nhà tu hành Ấn giáo. Nobili hòa mình vào lối sống của tín đồ Bà la môn giáo để giảng đạo cho họ. Phân biệt được những tập tục xã hội và tôn giáo,ngài cho các tân tòng được giữ thói tục xã hội của giai cấp như búi tóc (Kudumi), dây quàng… Trong nghi thức rửa tội, ngài bỏ bớt những gì người Ấn Độ khó chịu như thổi hơi, nước miếng.
Nhiều thừa sai đã phản đối Nobili, tố cáo về Rôma, nhưng giáo hoàng Urbano VIII vẫn chấp nhận thích nghi của ngài. Tuy nhiên vấn đề hội nhập ở Ấn Độ kết quả đem lại không nhiều.2 Matteo Ricci ở Trung Hoa Matteo Ricci (1552-1610) là linh mục dòng Tên, người Ý, một nhà truyền giáo nổi bật nhất ở Trung Hoa. Năm 1582 Ricci đến Áo môn. Năm 1589, ông đến Triều Châu truyền giáo, nghiên cứu Tứ thư, Ngũ kinh.
Năm 1594, ông ăn mặc quần áo theo kiểu nhà Nho tự xưng là Tây Nho. Năm 1596, ông được cử giữ chức bề trên dòng Tên Trung Hoa. Năm 1598, ông đến Nam Xương qua Nam Kinh cùng Lễ Bộ Thượng thư Vương Trung Danh đến Bắc Kinh, sau đó ông còn trở đi trở lại Nam Kinh, Bắc Kinh hoạt động truyền giáo. Trước tác của ông đáng kể là Thiên học thực nghĩa, Càn khôn tập nghĩa, Quan vu Ki Tô hội đích tiến nhập Trung Quốc Đáng kể nhất là cuốn Thiên học thực nghĩa cũng được gọi là Thiên Chúa thực nghĩa (Bắc Kinh 1603).
Đây là một kiệt tác về sự thích ứng lẫn nhau giữa tư tưởng Đông và Tây. Trong tác phẩm của mình Ricci chứng minh sự tương đồng giữa Ki Tô giáo và Nho giáo. Tác giả: Song yong pac (Hàn Quốc) trong bài Sự dung hợp và chỗ bất ổn của Thiên Chúa thực nghĩa của Matteo Ricci với Nho học viết: Bắt đầu từ sự giao lưu tư tưởng triết học Đông- Tây có thể nói rằng: “Thiên chúa thực nghĩa” của M. Ricci (1552-1610) có hai ý nghĩa sau đây: 1) Nó là cuốn sách chuyên môn lần đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống tư tưởng triết học phương Tây trong thời đại Trung Quốc truyền thống.
2) Phương thức thuyết minh của nó hết sức phù hợp với quan niệm cơ bản của văn hóa Nho gia, đã phát huy dược sức ảnh hưởng trong phạm vi văn hóa Nho gia Đông Á, khiến người ta phải chú ý. Ở một nước mà Nho, Phật, Đạo giáo phát triển, nhưng Ricci chọn Nho giáo vì thấy nhiều ý niệm của tông giáo này thích hợp để diễn tả sứ điệp Ki Tô giáo hơn. Trong “ Thiên Chúa thực nghĩa” Ricci chứng minh rằng: những văn bản nguyên thủy của Nho giáo chưa bị ảnh hưởng của Phật giáo có những ý niệm về trời, Thượng đế và cuộc sống sau khi chết rất gần gũi với ý niệm Thiên Chúa và đời sau của Ki Tô giáo. Như vậy, đến truyền giáo ở Trung Hoa một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, nơi sản sinh ra những hệ tư tưởng và tôn giáo lớn như Nho học, Nho giáo, Đạo giáo, Ricci thấy nếu phủ nhận những hệ tư tưởng và tôn giáo đó chắc chắn hoạt động truyền giáo sẽ không đạt kết quả.
Từ suy ngẫm như vậy, ông đã tìm cho mình một “ kênh” để hội nhập với nền văn hóa phát triển rực rỡ của nước này , đó là Nho giáo. Tầng lớp mà ông chú trọng đầu tiên là giới trí thức. Song, đáng tiếc, trên địa bàn Trung Hoa lúc đó xuất hiện giáo sĩ truyền giáo Nicolo Longobardi với chủ trương truyền giáo vào đại chúng, vào giới bình dân. Hoạt động truyền giáo của Longobardi đi ngược lại Nho giáo, nhất là cấm thờ kính Khổng Tử và tổ tiên, một tín ngưỡng ăn sâu vào tập tục Trung Hoa.
Việc không hội nhập với văn hóa Trung Hoa cũng có nghĩa là việc truyền giáo, phát hiện đạo Ki Tô ở Trung Hoa vì vậy đã gặp khó khăn. Công giáo Việt Nam và quá trình hội nhập 2.1 Quá trình truyền giáo và phát triển của đạo Công giáo ở Việt Nam Trong tiếng Việt, thuật ngữ Công giáo được dùng dể dịch chữ καθολικος, Catholica (Catholique), với ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộng đón nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào. Vì thế cộng đồng hoặc đoàn thể Công giáo Việt Nam còn được gọi là Công đoàn hoặc Cộng đoàn. Có thể chia quá trình truyền giáo phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam làm 6 thời kỳ.
Thời kỳ từ sơ khai đến năm 1659. Thời kỳ từ năm 1659 đến năm 1862. Thời kỳ từ năm 1862 đến năm 1933. Thời kỳ từ năm 1933 đến năm 1954.
Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay. Vào thế kỷ XVI, Công giáo (Thiên chúa giáo) truyền vào Việt Nam do các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sau là Pháp. Sự truyền đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối đầu của tôn giáo bản địa nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không cao.
Sau đó Pháp vận động Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại Việt Nam. Hội truyền giáo Pa-ri được thành lập năm 1660 cùng nhà nước Pháp tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ, cử sang hoạt động ở Việt Nam và một số nước khác. Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có ba địa phận (Đàng trong, Đàng ngoài và Tây đàng ngoài) với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh mục Việt Nam. Dưới triều Nguyễn, lúc đầu sự truyền giáo được nhà Nguyễn tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng sau đó thấy những hoạt động của giáo sĩ vừa truyền đạo vừa phục vụ cho âm mưu xâm lược của thực dân Pháp nên nhà Nguyễn đã cấm đạo nhất là từ khi thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính Việt Nam.
Việc cấm đạo gay gắt tạo sự chia rẽ nhất định trong nhân dân.