Tổng quan nghiên cứu

Phát triển du lịch bền vững đang là xu thế tất yếu của ngành kinh tế không khói tại Việt Nam. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, quy mô toàn ngành đã có bước tăng trưởng vượt bậc từ 250.000 lượt khách quốc tế vào những năm 1990 lên 6,847 triệu lượt khách quốc tế và 32,5 triệu lượt khách nội địa, đóng góp tổng doanh thu khoảng 160.000 tỷ đồng. Trong bức tranh chung đó, tỉnh Bắc Giang ghi nhận sự khởi sắc với 54.852 lượt du khách. Nằm trên hành lang du lịch Đông Bắc, Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ thuộc địa bàn xã An Lạc, huyện Sơn Động sở hữu diện tích 5.456,9 ha, mang giá trị sinh thái đặc trưng của vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh và văn hóa bản địa của 84,7% đồng bào dân tộc thiểu số.

Mặc dù có nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn vô cùng quý giá, đời sống của 810 hộ dân (3.156 nhân khẩu) tại xã An Lạc vẫn thuần nông và đối mặt với nhiều khó khăn gay gắt. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 55,56%, mức thu nhập bình quân chỉ đạt khoảng 3.000.000 đồng/người/năm. Hoạt động du lịch tại Khe Rỗ đón khoảng 6.000 lượt khách/năm nhưng chỉ có khoảng 300 lượt khách lưu trú qua đêm (tương đương 5%) và vỏn vẹn 12 hộ gia đình tham gia cung ứng dịch vụ đón tiếp. Người dân bản địa chưa thực sự trở thành chủ thể được hưởng lợi công bằng, dẫn đến áp lực gia tăng khai thác tài nguyên rừng.

Nghiên cứu tập trung giải quyết mục tiêu xác lập cơ sở khoa học, đánh giá toàn diện hiện trạng phát triển và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ phát triển mô hình du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ giai đoạn 2010 - 2015. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ diện tích 11.960,53 ha tự nhiên của xã An Lạc trong mối liên hệ với không gian du lịch Tây Yên Tử. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, tạo nền tảng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập cho người dân bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết về du lịch dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT) được khởi xướng từ những năm 1970 tại Mandeville (Jamaica) và chuẩn hóa bởi tổ chức REST (1997) cùng các học giả Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas. Trọng tâm của lý thuyết khẳng định du lịch cộng đồng là hình thức do người dân địa phương trực tiếp làm chủ, quản lý và thụ hưởng phần lớn lợi ích kinh tế nhằm củng cố các giá trị văn hóa truyền thống và bảo tồn tài nguyên.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết phát triển bền vững theo định nghĩa của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987), bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển kinh tế, công bằng xã hội và toàn vẹn môi trường sinh thái. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Du lịch cộng đồng, Sức chứa sinh thái điểm đến, Chia sẻ lợi ích công bằng và Đa dạng sinh học vùng đệm.

Mô hình nghiên cứu kế thừa các bài học điển hình trên thế giới và trong nước, bao gồm: mô hình du lịch sinh thái tự quản Ventanilla tại Mexico với sự tham gia của 19 hộ gia đình kết hợp liên kết đại học và tổ chức phi chính phủ; mô hình quản lý luân phiên đón khách và phân chia doanh thu tại làng Yubeng (Vân Nam, Trung Quốc); mô hình bảo tồn gắn với sinh kế Annapurna tại Nepal; và mô hình du lịch homestay Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) với 37 hộ gia đình kinh doanh nhà sàn phục vụ lưu trú.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Sơn Động, báo cáo của Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Bắc Giang, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử và tài liệu dự án do tổ chức phi chính phủ GTV (Italia) tài trợ với kinh phí 180.000 Euro.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua 2 đợt khảo sát thực địa trong năm 2014. Cỡ mẫu điều tra xã hội học bao gồm 136 hộ gia đình cư trú tại xã An Lạc, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đại diện cho các nhóm: hộ tham gia cung cấp dịch vụ du lịch (bán hàng, trông giữ phương tiện, lưu trú), hộ thuần nông nghiệp, và 8 hộ người dân tộc Dao đang sinh sống trực tiếp trong vùng lõi rừng Khe Rỗ (làng Nà Ó). Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo phản ánh khách quan tương quan lợi ích và nhận thức giữa các tầng lớp dân cư.

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp bản đồ thông qua phần mềm MapInfo để xây dựng hệ thống bản đồ tài nguyên, bản đồ hiện trạng và bản đồ phân vùng định hướng không gian du lịch Khe Rỗ. Các thuật toán thống kê mô tả và phân tích tổng hợp trên phần mềm Microsoft Excel được lựa chọn nhằm định lượng chính xác cơ cấu việc làm, mức độ phụ thuộc vào lâm sản và mức độ hài lòng của du khách, từ đó tạo luận cứ vững chắc cho các đề xuất quy hoạch.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng tự nhiên vượt trội của Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ với 9.483,17 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng đặc dụng chiếm tới 6.907 ha và tỷ lệ che phủ rừng toàn xã An Lạc đạt mức 93,8%. Hệ thực vật vô cùng phong phú với 81 loài cây thuộc 37 họ có giá trị sử dụng cao, trong đó có 430 loài cây được dùng làm thuốc chữa bệnh và 49 loài là dược liệu chính.

Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế - xã hội tại địa bàn bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng:

  • Lực lượng lao động trong độ tuổi đạt 1.874 người (chiếm 52% dân số), nhưng có tới 95,36% lao động (1.787 người) làm việc trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp với phương thức canh tác truyền thống, chỉ có 4,64% thuộc khối hành chính nhà nước.
  • Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn chỉ đạt 13%, tỷ lệ thiếu việc làm lúc nông nhàn lên tới 25%, dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo toàn xã ở mức rất cao là 55,56%.
  • Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ là nguồn sinh kế phụ quan trọng cho 414 hộ gia đình với tổng thu nhập khoảng 440 triệu đồng/năm. Đáng chú ý, việc thu hoạch nhựa Trám trắng (Canarium album) từ 219 hộ mang lại 360 triệu đồng/năm, tạo ra nguy cơ đe dọa trực tiếp tới thảm thực vật tự nhiên nếu không có phương án thay thế nguồn thu.
  • Mặc dù mỗi năm điểm đến thu hút trên 6.000 lượt khách tham quan, song chỉ có 300 lượt khách lưu trú qua đêm (chiếm tỷ lệ 5%) và toàn xã mới chỉ có 12 hộ gia đình đủ điều kiện cơ bản phục vụ ăn nghỉ tại gia.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh thực trạng phát triển du lịch tại Khe Rỗ mới ở giai đoạn sơ khởi và mang tính tự phát cao. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạ tầng giao thông kết nối liên huyện còn khó khăn, dịch vụ lưu trú nghèo nàn, thiếu các sản phẩm trải nghiệm văn hóa đặc sắc và sự thiếu hụt kỹ năng đón tiếp của người dân. Người dân địa phương sở hữu nguồn lực văn hóa độc đáo như làn điệu hát Then của người Tày (chiếm 64,1% dân số) hay nghề thủ công mây tre đan với 547 phụ nữ mong muốn tham gia, nhưng chưa được chuyển hóa thành sản phẩm thương mại hoàn chỉnh.

So sánh với mô hình Bản Lác (Mai Châu), nơi 37 hộ dân liên kết tổ chức 6 đội văn nghệ dân tộc và trích nộp 10% doanh thu cho chính quyền để tái đầu tư hạ tầng, xã An Lạc vẫn thiếu một cơ chế phân phối doanh thu rõ ràng và năng lực tiếp cận thị trường lữ hành còn phụ thuộc.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả qua các sơ đồ không gian phân bổ làng bản, biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu thành phần dân tộc và bảng thống kê ma trận tương quan giữa các nguồn thu nhập của hộ gia đình. Điều này chứng minh rằng việc chuyển dịch lao động từ khai thác rừng sang du lịch cộng đồng là chìa khóa then chốt để vừa bảo tồn hệ sinh thái 5.456,9 ha rừng Khe Rỗ, vừa nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực chứng, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy du lịch cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ:

  1. Thiết lập và vận hành Ban Quản lý Du lịch Cộng đồng xã An Lạc: Xây dựng tổ chức quản trị tự nguyện có sự đại diện của 12 thôn bản, UBND xã, đại diện Khu bảo tồn và doanh nghiệp lữ hành. Thực hiện cơ chế điều phối xoay vòng dịch vụ đón tiếp, trích lập quỹ phát triển cộng đồng 10 - 15% từ doanh thu lưu trú để tái đầu tư vệ sinh môi trường. Mục tiêu nâng số hộ đủ tiêu chuẩn đón khách homestay từ 12 lên 35 hộ trước năm 2018 (Chủ thể: UBND huyện Sơn Động và UBND xã An Lạc).
  2. Nâng cấp cơ sở hạ tầng và hoàn thiện chuỗi sản phẩm du lịch sinh thái: Hoàn thiện tuyến đường nội bản kết nối thôn Biểng, Nà Ó, Đồng Bây; xây dựng hệ thống biển chỉ dẫn đa ngữ dọc các tuyến suối Nước Trong, Khe Vàng; tiêu chuẩn hóa sản phẩm mật ong tự nhiên Khe Rỗ đạt sản lượng thương mại 12 tấn/năm và các sản phẩm mây tre đan thủ công trong giai đoạn 2016 - 2020 (Chủ thể: Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Bắc Giang phối hợp các Hợp tác xã).
  3. Triển khai chương trình đào tạo nghề và nâng cao năng lực bản địa: Tổ chức 10 lớp tập huấn thực hành kỹ năng buồng, bàn, pha chế, chế biến ẩm thực truyền thống, vệ sinh an toàn thực phẩm và đào tạo nghiệp vụ thuyết minh viên cho 200 lao động địa phương hoàn thành trước quý IV/2017 (Chủ thể: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh phối hợp tổ chức GTV).
  4. Tăng cường xúc tiến quảng bá và liên kết tuyến điểm du lịch liên vùng: Xây dựng ấn phẩm truyền thông, số hóa thông tin tour tuyến kết nối Khe Rỗ với quần thể danh thắng Tây Yên Tử và vịnh Hạ Long; liên kết với ít nhất 15 công ty lữ hành tại Hà Nội và Quảng Ninh để đưa khách theo tour định kỳ, nâng tỷ lệ khách lưu trú từ 5% lên 25% vào năm 2020 (Chủ thể: Sở Du lịch Bắc Giang và Hiệp hội Du lịch tỉnh).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền các cấp: Cung cấp cơ sở khoa học để Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Bắc Giang, UBND huyện Sơn Động hoạch định chính sách phân bổ đất rừng 9.483,17 ha, lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.
  • Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng khung lý thuyết và phương pháp đánh giá sức ép khai thác lâm sản ngoài gỗ (440 triệu đồng/năm) để thiết kế mô hình đồng quản lý tài nguyên rừng cùng cư dân vùng đệm trên phạm vi toàn quốc.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển sinh kế: Tham khảo hệ thống dữ liệu khảo sát 136 hộ dân để xây dựng các dự án tài trợ phát triển sản phẩm bản địa, xúc tiến nghề thủ công và mở rộng mạng lưới du lịch cộng đồng Việt Nam.
  • Học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Địa lý, Du lịch, Quản lý Môi trường: Tiếp cận nguồn tư liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp điều tra xã hội học nông thôn, ứng dụng GIS/MapInfo trong quy hoạch không gian điểm đến.

Câu hỏi thường gặp

Hệ sinh thái Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ có điểm gì đặc biệt để phát triển du lịch?
Khe Rỗ sở hữu 5.456,9 ha rừng nhiệt đới nguyên sinh tiêu biểu của vùng Đông Bắc với độ che phủ 93,8%. Nơi đây lưu giữ 430 loài cây dược liệu quý, hệ động thực vật phong phú cùng cảnh quan suối Nước Trong, thác Khe Vàng nguyên sơ, rất thuận lợi cho các hoạt động trekking, nghỉ dưỡng sinh thái và nghiên cứu khoa học.

Tại sao lượng khách lưu trú tại Khe Rỗ chỉ đạt 300 trên 6.000 lượt khách mỗi năm?
Nguyên nhân chủ yếu do hạ tầng dịch vụ lưu trú tại chỗ còn thiếu thốn, toàn xã mới chỉ có 12 hộ gia đình đáp ứng tiêu chuẩn đón khách cơ bản. Ngoài ra, các hoạt động trải nghiệm ban đêm và dịch vụ bổ trợ chưa phong phú khiến du khách chỉ tham quan đi về trong ngày.

Cộng đồng địa phương tại xã An Lạc có thể tham gia những hoạt động sinh kế nào từ du lịch?
Người dân có thể trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ lưu trú homestay, hướng dẫn viên dẫn đường rừng, đội văn nghệ biểu diễn hát Then dân tộc Tày, hoặc sản xuất hàng lưu niệm từ mây tre đan và nuôi ong lấy mật với tiềm năng đạt 12 tấn/năm.

Dự án của tổ chức phi chính phủ GTV (Italia) đã đóng góp những gì cho Khe Rỗ?
Tổ chức GTV đã tài trợ nguồn kinh phí 180.000 Euro trong giai đoạn 2009 - 2012, hỗ trợ 103 hộ dân tại 4 thôn cải tạo công trình vệ sinh, mua sắm trang thiết bị đón khách, đồng thời tổ chức các chuyến tham quan học tập mô hình du lịch cộng đồng và tập huấn nghiệp vụ.

Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn rừng và nhu cầu mưu sinh của người dân?
Giải pháp tối ưu là áp dụng mô hình du lịch cộng đồng chia sẻ lợi ích, chuyển dịch 25% lao động nông nhàn sang làm dịch vụ du lịch, tạo nguồn thu nhập bổ sung từ 200.000 - 300.000 đồng/người/tháng để thay thế hoạt động khai thác lâm sản và săn bắt trái phép.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch dựa vào cộng đồng, áp dụng đặc thù cho vùng rừng bảo tồn nhiệt đới Đông Bắc Việt Nam.
  • Đánh giá chính xác nguồn tài nguyên sinh thái 5.456,9 ha và giá trị văn hóa độc đáo của 7 dân tộc anh em tại xã An Lạc, huyện Sơn Động.
  • Chỉ rõ thực trạng phát triển du lịch sơ khai với 6.000 lượt khách/năm nhưng tỷ lệ lưu trú chỉ đạt 5%, nhận diện rõ mâu thuẫn giữa sinh kế hộ nghèo (55,56%) và áp lực bảo tồn rừng.
  • Đề xuất mô hình Ban Quản lý du lịch cộng đồng tự quản cùng 4 nhóm giải pháp đột phá về hạ tầng, sản phẩm, đào tạo và liên kết thị trường giai đoạn 2016 - 2020.
  • Xác lập cơ sở khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng kinh tế xanh gắn với giảm nghèo bền vững.

Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Khe Rỗ trở thành điểm đến du lịch sinh thái cộng đồng trọng điểm của tỉnh Bắc Giang, các cấp chính quyền địa phương, Ban quản lý Khu bảo tồn Tây Yên Tử và các doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng phối hợp triển khai đề án thành lập Ban Quản lý du lịch cộng đồng và giải ngân nguồn vốn đầu tư hạ tầng ngay trong năm tới.