Tổng quan nghiên cứu

Thị trường du lịch toàn cầu năm 2018 ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc khi vượt mốc 1,4 tỷ lượt khách quốc tế với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 6%, mở ra cơ hội lớn cho các mô hình du lịch bền vững. Tại Việt Nam, An Giang là tỉnh đầu nguồn Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu diện tích tự nhiên 3.537 km2, tương đương 1,1% diện tích cả nước, cùng quy mô dân số trên 2,3 triệu người và mật độ 609 người/km2. Địa phương này hội tụ tài nguyên tự nhiên và nhân văn vượt trội với sự giao thoa văn hóa đặc sắc của 4 dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer cùng hệ thống 27 di tích quốc gia và 48 di tích cấp tỉnh.

Mặc dù có nguồn tài nguyên dồi dào, hoạt động du lịch tại An Giang trong thời gian dài vẫn phụ thuộc nhiều vào các ngành kinh tế khác, mang tính thời vụ, chủ yếu là hành hương ngắn ngày và chưa tương xứng với tiềm năng nội tại. Vấn đề đặt ra là phát triển du lịch cộng đồng như một phương thức sinh kế bền vững nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và bảo tồn văn hóa bản địa.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, phân tích toàn diện thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại tỉnh An Giang trong giai đoạn 2013 - 2018, xác định các điểm nghẽn hạ tầng và cơ chế quản lý, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát 11 đơn vị hành chính gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện trên địa bàn tỉnh. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao thu nhập cho cư dân tại 156 xã, phường, thị trấn, đồng thời gia tăng đóng góp của ngành dịch vụ du lịch vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng mô hình tiếp cận du lịch dựa vào cộng đồng của Murphy (1986), kết hợp lý thuyết phát triển cộng đồng bền vững của Derek Hall (2003) và Sue Beeton (2006). Khung lý thuyết nhấn mạnh nguyên tắc trao quyền cho cộng đồng địa phương, xây dựng năng lực quản trị kinh doanh du lịch và chia sẻ lợi ích công bằng giữa các bên liên quan. Đồng thời, đề tài tích hợp nguyên tắc hợp tác 4P (Public - Private - People - Partnership) và mô hình 5A (Attitude - Access - Accommodations - Attractions - Advertising) cùng Tiêu chuẩn Du lịch Cộng đồng ASEAN.

Hệ thống khái niệm nền tảng bao gồm:

  • Du lịch cộng đồng: Loại hình du lịch do chính cộng đồng địa phương phối hợp tổ chức, sở hữu, quản lý và vận hành nhằm tạo sinh kế bền vững, bảo vệ môi trường và gìn giữ giá trị văn hóa.
  • Tài nguyên du lịch: Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa mạo, khí hậu, thủy văn cùng toàn bộ giá trị văn hóa truyền thống, di tích lịch sử và lễ hội.
  • Sức chứa du lịch: Giới hạn tối đa về lượng khách mà một điểm đến có thể tiếp nhận mà không làm suy thoái môi trường tự nhiên hay phá vỡ cấu trúc văn hóa bản địa.
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Quá trình phân bổ lại nguồn lực lao động từ nông nghiệp thuần túy sang dịch vụ - thương mại du lịch tại nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong dòng thời gian 5 năm từ 2013 đến 2018. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo định kỳ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang, báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, niên giám thống kê và các văn bản chỉ đạo ngành.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu 150 đối tượng, bao gồm 90 hộ dân sinh sống tại các điểm du lịch cộng đồng trọng điểm, 40 du khách trong nước và quốc tế, cùng 20 cán bộ quản lý và doanh nghiệp lữ hành. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các cụm không gian: cù lao sông Tiền - sông Hậu, vùng đồng bào Chăm và vùng Bảy Núi - Thất Sơn.

Lý do lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích và so sánh đối chiếu là nhằm lượng hóa chính xác tốc độ tăng trưởng lượt khách, doanh thu lưu trú, đồng thời làm rõ sự tương quan giữa đầu tư cơ sở hạ tầng với mức độ tham gia chuỗi giá trị của người dân bản địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, An Giang sở hữu nền tảng tài nguyên đa dạng hiếm có nhưng mức độ thương mại hóa sản phẩm du lịch cộng đồng còn thấp. Toàn tỉnh có 66% diện tích là đất phù sa cồn bãi phì nhiêu, 11% diện tích đồi núi phân bố tại Tri Tôn và Tịnh Biên với đỉnh Núi Cấm cao 705m. Tỉnh dẫn đầu khu vực với 24,7% tổng số trang trại của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và 11,8% số trang trại cả nước, nhưng mô hình du lịch nông nghiệp trải nghiệm chỉ mới manh nha tại cù lao Mỹ Hòa Hưng và Chợ Mới.

Thứ hai, hạ tầng kết nối giao thông còn nhiều điểm nghẽn kỹ thuật. Hệ thống đường bộ của tỉnh có tổng chiều dài 3.560 km nhưng chỉ có 356 km đường nhựa, chiếm khoảng 10%, phần còn lại là đường đá và cấp phối gây trở ngại cho xe du lịch cỡ lớn. Mặc dù mật độ đường thủy đạt mức cao 0,73 km/km2 với 541 tuyến sông rạch dài 2.504 km và 8 bến phà, hệ thống bến tàu du lịch đạt chuẩn đón khách quốc tế tại các làng bè Châu Đốc hay làng Chăm Châu Phong vẫn rất thiếu thốn.

Thứ ba, cơ cấu nguồn thu và chuỗi giá trị chưa phân phối đồng đều đến người dân. Hoạt động lữ hành và khách sạn giai đoạn 2014 - 2018 ghi nhận lượng khách tăng trưởng qua từng năm nhưng thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt khoảng 1,3 đến 1,5 ngày. Tỷ lệ dân cư tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch tại các làng nghề như dệt thổ cẩm Khmer xã Văn Giáo hay dệt lụa Chăm chỉ đạt dưới 30% tổng số hộ dân làng nghề, phần lớn lợi nhuận thương mại rơi vào tay các đơn vị trung gian lữ hành ngoài tỉnh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ việc thiếu một quy hoạch tổng thể đồng bộ về du lịch cộng đồng và cơ chế quản lý tài chính chưa rõ ràng. Khác với mô hình thành công tại Chi Phat (Campuchia) khi trích 20% doanh thu vào quỹ phát triển cộng đồng, hay Baan Nam Chieo (Thái Lan) thiết lập cơ chế họp bàn định kỳ hàng tháng, các điểm du lịch tại An Giang vẫn hoạt động tự phát, thiếu liên kết vùng.

So sánh với các mô hình trong nước như Bản Lác (Mai Châu) hay Sa Pa (Lào Cai) với doanh thu hàng nghìn tỷ đồng và tạo việc làm cho hơn 8.150 lao động, An Giang chưa định vị được thương hiệu sản phẩm đặc trưng cho từng dân tộc. Các lễ hội lớn như Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam hay Lễ Đua bò Bảy Núi thu hút hàng triệu lượt khách mỗi năm nhưng chưa chuyển hóa được dòng khách này sang lưu trú trải nghiệm đời sống văn hóa bản địa.

Để phản ánh trực quan bức tranh thực trạng, các dữ liệu nghiên cứu nên được trực quan hóa qua biểu đồ đường thể hiện biến thiên lượng khách giai đoạn 2014 - 2018 đối chiếu với doanh thu lữ hành, kết hợp bảng ma trận SWOT đánh giá 5 cụm điểm du lịch trọng điểm và biểu đồ tròn phân tích cơ cấu chi tiêu của du khách.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách và thiết lập Quỹ Phát triển Du lịch Cộng đồng. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang chủ trì ban hành quy chế quản lý hoạt động du lịch cộng đồng giai đoạn 2020 - 2025, quy định tỷ lệ trích nộp từ 15% đến 20% doanh thu dịch vụ du lịch tại các điểm tham quan để tái đầu tư vào công trình công cộng, xử lý rác thải và hỗ trợ an sinh xã hội địa phương.

Thứ hai, đa dạng hóa và chuẩn hóa các chuỗi sản phẩm du lịch bản địa. Hiệp hội Du lịch tỉnh phối hợp với các hợp tác xã triển khai 4 nhóm sản phẩm đặc trưng: du lịch trải nghiệm sông nước miệt vườn tại Cù lao Giêng và Mỹ Hòa Hưng; du lịch văn hóa - làng nghề truyền thống Chăm và Khmer; du lịch sinh thái nông nghiệp công nghệ cao; du lịch trekking khám phá thiên nhiên Bảy Núi. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách lên mức 2,2 ngày vào năm 2025.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực nguồn nhân lực cộng đồng theo Tiêu chuẩn ASEAN. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch An Giang tổ chức tối thiểu 25 khóa đào tạo chuyên sâu từ năm 2021 đến 2024 cho khoảng 1.500 lượt người dân bản địa về nghiệp vụ homestay, kỹ năng thuyết minh, vệ sinh an toàn thực phẩm và giao tiếp ngoại ngữ căn bản.

Thứ tư, nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và số hóa xúc tiến quảng bá. Sở Giao thông Vận tải ưu tiên nâng tỷ lệ nhựa hóa các trục giao thông kết nối điểm du lịch từ 10% lên 35% trước năm 2025, xây dựng 5 bến thuyền du lịch tiêu chuẩn. Đồng thời, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư tỉnh xây dựng bản đồ số du lịch thông minh, tăng cường liên kết tour tuyến với thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố tại An Giang và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng đề án, quy hoạch và ban hành chính sách phát triển kinh tế du lịch nông thôn.

Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Các công ty du lịch trong và ngoài nước có thể khai thác hệ thống dữ liệu khảo sát tài nguyên, đặc điểm thị trường và gợi ý tour tuyến để thiết kế các gói sản phẩm trải nghiệm văn hóa sông nước, liên kết bao tiêu sản phẩm làng nghề bản địa.

Cộng đồng cư dân và các hợp tác xã du lịch: Các hộ gia đình tại các vùng đồng bào dân tộc Chăm, Khmer, các làng bè Châu Đốc và vùng cù lao có thể áp dụng các bài học quản trị homestay, quy trình phục vụ và cơ chế chia sẻ lợi ích để tự tin khởi nghiệp du lịch cộng đồng.

Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giới học thuật chuyên ngành Quản lý kinh tế, Du lịch học và Địa lý kinh tế sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận đánh giá tài nguyên, mô hình hóa số liệu thực địa và tổng hợp kinh nghiệm quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tiếp cận vấn đề phát triển du lịch cộng đồng dưới góc độ chuyên ngành nào? Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế, tập trung giải quyết bài toán phân bổ nguồn lực, nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị và hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước nhằm chuyển đổi sinh kế bền vững cho người dân nông thôn.

Tiềm năng lớn nhất của du lịch cộng đồng tỉnh An Giang được xác định trong luận văn là gì? Đó là sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa địa hình đa dạng gồm 66% đồng bằng cồn bãi phì nhiêu và 11% đồi núi Bảy Núi hùng vĩ, cùng sự giao thoa văn hóa lâu đời của 4 dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer với 27 di tích quốc gia.

Dữ liệu thực nghiệm của luận văn được thu thập và phân tích trong giai đoạn nào? Luận văn thu thập và phân tích chuỗi số liệu thứ cấp chính thống từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh cùng Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang trong giai đoạn 5 năm từ 2014 đến 2018, kết hợp các cuộc khảo sát thực địa năm 2019.

Những bài học kinh nghiệm quốc tế nào được luận văn phân tích để áp dụng cho An Giang? Luận văn đúc kết 4 mô hình tiêu biểu gồm: mô hình cơ chế tài chính và quản trị có sự tham gia của Chi Phat (Campuchia), sản phẩm bảo tồn động vật hoang dã Nam Nern (Lào), quy hoạch phân cấp Thandaung-Gyi (Myanmar) và quản trị homestay Baan Nam Chieo (Thái Lan).

Giải pháp cốt lõi nào giúp người dân địa phương tại An Giang hưởng lợi trực tiếp từ du lịch? Giải pháp cốt lõi là thành lập Ban quản lý du lịch cộng đồng cấp cơ sở và Quỹ chia sẻ lợi ích địa phương, kết hợp đào tạo nghề trực tiếp tại chỗ nhằm trao quyền tự chủ vận hành dịch vụ lưu trú, ẩm thực và bán hàng lưu niệm cho người dân.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng, làm rõ các nguyên tắc vận hành bền vững và tiêu chuẩn quản lý hiện đại.
  • Luận văn cung cấp bức tranh thực trạng chân thực về du lịch An Giang giai đoạn 2013 - 2018, chỉ rõ tiềm năng to lớn từ 27 di tích quốc gia và 4 dân tộc bản địa.
  • Công trình đã chỉ ra chính xác các điểm nghẽn hạ tầng giao thông và cơ chế điều phối lợi ích kinh tế giữa doanh nghiệp và người dân.
  • Hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất có tính ứng dụng cao, gắn liền với các mốc lộ trình cụ thể đến năm 2025.
  • Đề tài mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về đánh giá sức tải môi trường và ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý chuỗi cung ứng du lịch cộng đồng vùng biên giới.

Các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu quan tâm đến mô hình phát triển kinh tế bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long hãy tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu để cùng chung tay thúc đẩy du lịch cộng đồng An Giang vươn tầm cao mới.