Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận về văn hoá của đồng bào người Cơ Tu trong phát triển du lịch tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận và khuyến nghị 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HOÁ CỦA ĐỒNG BÀO NGƯỜI CƠ TU TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI XÃ HÒA BẮC, HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Cơ sở lí luận của đề tài: 2.1 Cơ sở lí luận về du lịch: 2.1 Khái niệm về du lịch: Theo tổ chức Du lịch thế giới: “Du lịch là hoạt động của con người đến và ở tại những nơi ngoài môi trường hàng ngày của họ trong một thời gian nhất định với mục đích giải trí, công vụ hay những mục đích khác.” [1] Theo luật Du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.2 Điểm du lịch và điểm đến du lịch: Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Điểm du lịch được hiểu là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.” Điểm đến du lịch được hiểu là một quốc gia hay vùng lãnh thổ có khả năng thu hút sự tò mò của khách du lịch với nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn, kết cấu hạ tầng du lịch phù hợp, cá sản phẩm du lịch hỗ trợ dịch vụ, có điều kiện đáp ứng các nhu cầu của khách. Điểm du lịch là nơi tập trung tài nguyên du lịch, cơ sở phục vụ nhưng không xác định được qui mô, điều kiện tiếp cận, sản phẩm đặc thù, sự lưu trú, chuỗi cung ứng và độ nhận diện thương hiệu, vì thế điểm du lịch là một phần của điểm đến du lịch.2 Cơ sở lí luận về du lịch cộng đồng 2.1 Khái niệm về Du lịch dựa vào cộng đồng 15 Để hiểu được khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng ta cần tìm hiểu khái niệm DLCĐ. DLCD thực ra là phương thức phát triển du lịch bền vững cần sự tham gia của CĐĐP tại nơi có nguồn TNDL.Cũng có thể hiểu rõ hơn qua các nhà khoa học, tổ chức tiến hành nghiên cứu: Tác giả Đỗ Thanh Hoa trong Tạp chí du lịch Việt Nam cho rằng: “Phát huy vai trò của cộng đồng địa phương phát triển du lịch bền vững, DLCĐ là một hình thái du lịch, trong đó chủ yếu là những người dân địa phương đứng ra phát triển quản lý du lịch.
Kinh tế địa phương sẽ được phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du lịch.” [3] Theo tác giả Bùi Thị Hải Yến trong sách Du lịch cộng đồng: “DLCĐ có thể được hiểu là phương thức phát triển du lịch bền vững mà ở đó CĐĐP có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch. Cộng đồng nhận được sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế, của chính quyền địa phương, cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn, khai thác TNMTDL bền vững, đáp ứng nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách để mọi tầng lớp dân cư đều có thể sử dụng tiêu dùng các sản phẩm du lịch.” [4] Từ nghiên cứu cơ sở lý luận, khái niệm DLCĐ được nhiều nhà khoa học và các tổ chức đưa ra cũng như từ thực tiễn phát triển DLCĐ trên thế giới và ở Việt Nam, DLCĐ có thể được hiểu: “Là phương thức phát triển du lịch bền vững có sự tham gia trực tiếp của CĐĐP trong mọi hoạt động và tất cả quá trình phát triển du lịch. CĐĐP nhận được sự trợ giúp, hợp tác của các chủ thể tham gia khác, đồng thời được hưởng phần lớn những nguồn lợi thu được từ hoạt động du lịch. Phát triển DLCĐ nhằm bảo tồn, phát triển, khai thác TNMTDL bền vững, phát triển cộng đồng và du lịch bền vững, đáp ứng nhu cầu du lịch đa dạng ngày càng cao và hợp lý của du khách, để mọi tầng lớp dân cư có thể tiêu dùng các sản phẩm du lịch.” [5] Trên cơ sở khái niệm du lịch cộng đồng ta thấy cộng đồng hiện nay, ở nhiều nơi, hoạt động này không hòa n toàn chỉ là sự tham gia CĐĐP trực tiếp tham gia vào các hoạt động du 16 lịch như khai thác, quản lý, bảo tồn tài nguyên du lịch thông qua sự giúp đỡ của các cơ quan tài trợ, các tổ chức phi chính phủ, chính quyền địa phương.
Đây chính là điểm khác giữa du lịch cộng đồng và du lịch dựa vào cộng đồng. Như vậy, du lịch dựa vào cộng đồng là việc CĐĐP trực tiếp tham gia vào các hoạt động du lịch như khai thác, quản lý, bảo tồn tài nguyên du lịch thông qua sự giúp đỡ của các cơ quan tài trợ, các tổ chức phi chính phủ, chính quyền địa phương… Lợi ích nhận được sẽ đóng góp nhiều cho kinh tế địa phương, cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống, giảm tỷ lệ đói nghèo. Khách du lịch được học hỏi về cộng đồng, nâng cao nhận thức, và về cuộc sống đời thường, văn hóa truyền thống của người dân bản xứ. Đồng thời du lịch dựa vào cộng đồng sẽ giữ gìn, bảo tồn các di sản về văn hóa, di sản thiên nhiên của địa phương, và hướng đến sự phát triển du lịch bền vững.2 Khái niệm về du lịch cộng đồng: DLCĐ xuất hiện ở những năm 1970, cho đến nay đã phát triển phổ biến ở hầu hết các châu lục, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số (DTTS) ở Châu Phi, khu vực Mỹ Latinh và Châu Á.
Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên cho rằng: “DLCĐ là hoạt động mà ở đó cộng đồng địa phương trực tiếp tham gia và nắm vai trò quan trọng trong việc quản lý và phát triển. Phần lớn lợi ích thu được thuộc về cộng đồng.” [5] Hausle và Strasdas khẳng định: “DLCĐ ngoài ý nghĩa là loại hình du lịch có sự tham gia tích cực, chủ động của người dân vào mọi mắt xích, còn trực tiếp đóng góp vào phát triển kinh tế cho người dân và cho cả địa phương.” [6] Theo quan điểm được đưa ra trong bộ: “Tiêu chuẩn về du lịch cộng đồng” được các quốc gia Đông Nam Á đồng thuận năm 2016, DLCĐ là hình thức du lịch được sở hữu, vận hành, điều phối và quản lý bởi cộng đồng nhằm hướng tới việc cải thiện điều kiện kinh tế 17 cộng đồng thông qua các hoạt động hỗ trợ sinh kế bền vững, duy trì và bảo vệ các truyền thống văn hóa xã hội có giá trị, cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên.” [7] Từ đó ta có thể nhận định rằng: DLCĐ là loại hình du lịch có sự tham gia trực tiếp từ CĐĐP vào các chuỗi cung ứng quản lí, là người được trực tiếp nhận lợi nhuận từ các hoạt động du lịch. Là loại hình du lịch có quy mô nhỏ nhưng hướng đến mục đích phát triển kinh tế xã hội.3 Đặc điểm của du lịch cộng đồng: Theo kết quả nghiên cứu của TS. Đoàn Mạnh Cương (2019), DLCĐ mang một số đặc trưng như sau: “Thứ nhất, DLCĐ đảm bảo văn hoá, thiên nhiên bền vững: đây là một trong những cách tốt nhất vừa khai thác du lịch vừa giữ gìn bản sắc văn hoá, sử dụng dịch vụ tại chỗ, và tôn trọng văn hoá địa phương.
Thúc đẩy nghề nghiệp truyền thống phát triển và giữ gìn bản sắc văn hoá. Đồng thời, DLCĐ cần có người dân địa phương tham gia để dân có ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường, giáo dục nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường sinh thái, bản sắc văn hoá, vệ sinh cộng đồng. Du lịch cân bằng với các tiêu chuẩn kinh tế, văn hoá xã hội và môi trường; nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hoá được khai thác hợp lý; bảo vệ môi trường sinh thái cảnh quan; bảo tồn được môi trường văn hoá. Thứ hai, DLCĐ đồng cần có sở hữu cộng đồng: Cộng đồng là chủ thể quản lý di sản dân tộc, có phong cách và lối sống riêng cần được tôn trọng; cộng đồng có quyền sở hữu các tài nguyên và do vậy có quyền tham gia vào các hoạt động du lịch.
Thứ ba, thu nhập từ DLCĐ cần giữ lại cho cộng đồng: Lợi nhuận thu được từ du lịch được chia sẻ công bằng cho cộng đồng để bảo vệ môi trường; cộng đồng thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế trực tiếp để tái đầu tư cho địa phương ngoài hỗ trợ của Chính phủ. Thứ tư, DLCĐ cần tăng cường quyền lực cho cộng đồng: DLCĐ là do cộng đồng tổ chức quản lý; du lịch cộng đồng là thúc đẩy, tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia nhiệt tình vào 18 phát triển du lịch; cộng đồng dân cư được trao quyền làm chủ, thực hiện các dịch vụ và quản lý phát triển du lịch. Thứ năm, DLCĐ góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng: Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái; nâng cao ý thức bảo vệ di sản văn hoá cộng đồng, chống các trào lưu du nhập. Thứ sáu, DLCĐ cần tăng cường hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và cơ quan nhà nước: Hỗ trợ kinh nghiệm và vốn đầu tư; hỗ trợ về cơ sở vật chất và ưu tiên về các chính sách cho cộng đồng trong việc phát triển du lịch và phát triển cộng đồng.” [8] Theo Phạm Thị Hồng Cúc và Ngô Thanh Loan (2016), tại Việt Nam mô hình DLCĐ phát triển dưới 3 mô hình chủ yếu tại địa phương: “Mô hình thứ 1: Cả cộng đồng cùng tham gia chính trong du lịch Mô hình thứ 2: Chỉ một bộ phận cộng đồng hoặc hộ gia đình tham gia Mô hình thứ 3: Mô hình liên doanh giữa cộng đồng hoặc một số thành viên cộng đồng và đối tác kinh doanh.” Theo Quỹ Châu Á, DLCĐ thường diễn ra 5 hình thức sau: 9 Du lịch sinh thái; Du lịch văn hóa; Du lịch nông nghiệp; Du lịch bản địa; Du lịch làng.
Đối tượng tìm đến loại hình DLCĐ thường muốn tự trải nghiệm đời sống văn hóa, nhịp sống thường ngày, môi trường tự nhiên hoang sơ. Chính bởi yếu tố đó, bản sắc văn hóa tộc người và điều kiện cũng như cảnh quan sinh thái địa phương là hai trong nhiều giá trị quan trọng có thể khai thác trong hoạt động DLCĐ. Mỗi dân tộc mang trong mình một bản sắc riêng, trở thành tiền đề, điểm dựa cho việc khai thác và phát triển DLCĐ.