CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN TẠI ĐÀ NẴNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Du lịch biển Du lịch biển là một ngành kinh doanh các hoạt động như hướng dẫn du lịch, trao đổi hàng hóa và các dịch vụ của các doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu thăm quan, nghỉ dưỡng, ăn uống, vui chơi, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp (định nghĩa của Khoa quản trị Kinh doanh Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân).
Các nhà nghiên cứu về du lịch đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến thăm quan, nghỉ dưỡng không phải là nơi ở và là nơi làm việc của họ. Ngoài ra, còn có nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa khác: “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch”. Trong đó khách du lịch là khách hàng rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đi đến các nơi khác và quay trở lại nhằm thỏa mãn các mục đích khác nhau, nhà cung ứng là các tổ chức kinh tế, đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho hoạt động du lịch; dân cư sở tại là những người dân ở tại địa phương diễn ra hoạt động du lịch; chính quyền địa phương là cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương tại điểm du lịch.
9 Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với việc sử dụng tài nguyên biển (tài nguyên biển trong du lịch bao gồm: bãi biển, các loại sinh vật biển như tôm, cá, san hô,…) gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, ăn uống, khám phá, thăm quan,… của khách du lịch. Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của con người để nghỉ dưỡng sau thời gian làm việc căng thẳng cũng như có nhu cầu thăm quan tăng thêm sự hiểu biết về phong cảnh, con người xung quanh. Tuy nhiên, hiện nay quan điểm nhận xét về du lịch của người làm du lịch và các nhà nghiên cứu về du lịch vẫn còn có sự khác nhau trong lĩnh vực này. Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội. Chính sách công và Chính sách phát triển du lịch biển Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. Từ cách hiểu như trên ta có thể thấy chính sách công có những đặc trưng cơ bản sau: - Chính sách công là sản phẩm của chủ thể nắm giử quyền lực công nên bất cứ chủ thể nào nắm quyền lực công đều có khả năng ban hành chính sách công.
10 - Với đặc trưng đặc biệt của mình nên Nhà nước luôn là chủ thể chủ yếu ban hành chính sách công. Nhà nước là cơ quan có thẩm quyền bao gồm: Quốc hội, chính phủ, các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương các tỉnh, thành. - Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của chủ thể hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mà còn bao gồm những hoạt động tổ chức thực hiện các dự định nói trên. - Chính sách công là định hướng hành động được thể hiện bằng một tập hợp bao gồm nhiều quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, gồm các mục tiêu và giải pháp, thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ.
Đó là một chuỗi các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy Nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài và mang tính lịch sử, cụ thể nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. - Tính hợp pháp là điểm khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổ chức trong khu vực tư nhân hay của các đoàn thể xã hội… - Chính sách công là sản phẩm của quá trình thực thi quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, cho nên chính sách đó trước hết phải mang tính giai cấp. Song bên cạnh tính giai cấp, chính sách công còn đòi hỏi phải mang tính dân tộc và tính nhân loại. - Quá trình hoạch định chính sách công luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố thể chế, tổ chức, các nhóm lợi ích và các yếu tố văn hóa - xã hội.
- Giữa quyết sách chính trị và chính sách công có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: chính sách công là một dạng biểu hiện cụ thể của quyết sách chính trị của đảng, nó thể hiện ý chí của nhà nước trong việc tổ chức, quản lý, điều hành một lĩnh vực hoạt động nào đó của đời sống xã hội. 11 - Quyết sách chính trị của đảng cầm quyền và chính sách công có điểm chung đó là sự thể hiện ý chí giai cấp cầm quyền, giai cấp thống trị xã hội trong đó được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công. Chính sách phát triển du lịch: Muốn thu hút khách du lịch không chỉ đến một lần mà có thể nhiều lần hoặc chí ít là tạo ấn tượng tốt đến với khách du lịch. Thì từ tầm vĩ mô đến vi mô cần phải có những định hướng chiến lược nhằm tạo một môi trường phát triển du lịch biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn nhưng phải phù hợp với tình hình khai thác cũng như phát triển du lịch của từng địa phương.[21] Thứ nhất, cần thường xuyên đa dạng hóa các sản phẩm du lịch phải phù hợp với từng địa phương.
Đồng thời phải tiếp tục hoàn thiện các sản phẩm sẵn có để có thể đáp ứng nhu cầu của khách du lịch như du lịch biển kết hợp với nghỉ dưỡng, thám hiểm đại dương, đảo, xây dựng các trung tâm mua sắm,… Thứ hai, công tác an ninh – trật tự ở các khu vực bãi biển cần phải tăng cường cao độ nhằm tạo cho khách tham quan du lịch cảm giác an toàn và thoải mái nghỉ ngơi khi đến đây; xây dựng các đội bảo vệ ven bờ biển cũng như tăng cường công tác phòng hộ trên biển. Thứ ba, cải thiện môi trường sinh thái: giải quyết vấn đề rác thải sinh hoạt, cũng như các loại thủy hải sản của ngư dân để lại. Vì thế, cần phải nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của du khách và cả người dân địa phương. Đồng thời, trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất - kĩ thuật đi kèm với việc bảo vệ môi trường xung quanh, không gây ảnh hưởng, thiệt hại về nguồn tài nguyên biển hay ô nhiễm môi trường nước, dẫn đến những thiệt hại đáng kể cho việc phát triển du lịch và mỹ quan nơi đây.
Thứ tư, đẩy mạnh chương trình quảng cáo, tiếp thị nhằm thu hút khách du lịch. Đồng thời tổ chức các sự kiện, lễ hội, các hội nghị, tọa đàm cũng mời các 12 chuyên gia, doanh nghiệp nước ngoài…nhằm quảng bá hình ảnh. Để họ có thể đẩu tư hoặc đưa địa điểm vào chương trình tour của mình. Nhằm tăng lượng khách đến tham quan, du lịch nhất là những thời điểm hết mùa du lịch.
Từ những phân tích trên có thể thấy, muốn phát triển du lịch biển cũng như các hoạt động du lịch khác cần phải kết hợp bởi nhiều yếu tố với nhau nhằm tạo nên một hiệu quả tốt nhất. Trước hết, chính quyền cần phải triển khai một số biện pháp cứng rắn hơn như: xử lý, phạt nặng đối với những hành vi làm ô nhiễm môi trường nhất là môi trường biển; mở các lớp giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có đủ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Lý thuyết về thực hiện chính sách phát triển du lịch biển 1.1 Sự cần thiết của chính sách phát triển du lịch biển dưới góc độ chính sách công Trong quản lý xã hội, các nhà nước đã sử dụng chính sách làm công cụ chủ yếu để giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng nhằm thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo định hướng. Vai trò của chính sách công được thể hiện trên những lĩnh vực sau đây: - Định hướng các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội: Chính sách công phản ánh trực tiếp các thái độ và việc ứng xử của nhà nước trước một vấn đề công, nên chính sách công thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các đối tượng xã hội để các đối tượng nầy vận động đạt được những giá trị đổi mới tốt đẹp mà nhà nước đang theo đuổi.
Giá trí đó chính là mục tiêu của chính sách công phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động theo chiều hướng tác động của chính sách thì không những đạt được mục tiêu phát triển, mà còn được hưởng những ưu đãi của nhà nước. Như vậy, cùng với mục tiêu, các biện pháp chính sách công cũng có vai trò định hướng cho hành động của các chủ thể kinh tế - xã hội.