Tổng quan nghiên cứu

Khu di tích lịch sử cách mạng An toàn khu (ATK) Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên là quần thể di sản có quy mô đặc biệt lớn với 108 điểm di tích ghi dấu 9 năm kháng chiến trường kỳ (1946 – 1954) của dân tộc. Nơi đây từng là đầu não chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ, được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10/5/2012. Mặc dù sở hữu 14 điểm di tích cấp quốc gia và 6 điểm di tích cấp tỉnh, hoạt động du lịch tại ATK Định Hóa trong giai đoạn 2009 – 2014 vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, đóng góp kinh tế còn khiêm tốn và chưa tạo ra nguồn lực tài chính bền vững để tái đầu tư cho công tác bảo tồn.

Nghiên cứu được triển khai nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nguyên trạng các giá trị lịch sử cách mạng với nhu cầu khai thác phát triển du lịch dịch vụ. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng phát triển du lịch tại 24 xã, thị trấn thuộc huyện Định Hóa trong giai đoạn 5 năm (2009 – 2014), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi đặt mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả kinh tế - xã hội, hướng tới tốc độ tăng trưởng lượng khách du lịch đạt 15 – 20% mỗi năm, đồng thời nâng tỷ trọng nguồn thu du lịch đóng góp trực tiếp cho quỹ tôn tạo di tích lên trên 20% tổng ngân sách vận hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên Công ước Quốc tế về Du lịch văn hóa năm 1999 của Hội đồng Quốc tế về Di tích và Di chỉ (ICOMOS) với 6 nguyên tắc quản lý di sản, kết hợp cùng khung lý thuyết phát triển du lịch văn hóa bền vững của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO). Khung phân tích vận dụng lý thuyết "Bảo tồn tích cực" (Active Conservation), khẳng định bảo tồn không chỉ là gìn giữ thụ động hiện trạng công trình mà phải gắn liền với phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại thông qua hoạt động kinh tế du lịch.

Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng mô hình các điều kiện phát triển du lịch của Tiến sĩ Trần Đức Thanh, phân tích tương tác giữa 3 nhóm nhân tố chính: nhóm điều kiện chung (an ninh, chính sách, hạ tầng), nhóm nhân tố sinh nhu cầu (thu nhập, thời gian rỗi) và nhóm cung ứng du lịch (tài nguyên, cơ sở vật chất, thái độ cộng đồng). Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa và xuyên suốt toàn bộ luận văn bao gồm: Di tích lịch sử cách mạng, Bảo tồn tích cực, Du lịch về nguồn và Sức chứa du lịch tại điểm đến di sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong mốc thời gian 2009 – 2014. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo quản lý tài chính, đề án quy hoạch của Ban quản lý Khu di tích ATK Định Hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên, cùng các nghị định, quyết định của Chính phủ. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa tại 24 xã, thị trấn và phỏng vấn sâu đại diện các cơ quan quản lý, doanh nghiệp lữ hành.

Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi được thực hiện với quy mô mẫu 200 phiếu. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm đối tượng: 140 khách du lịch nội địa, 20 du khách quốc tế đến từ Anh và Pháp, 20 cán bộ nhân viên quản lý di tích và 20 đại diện doanh nghiệp lữ hành. Phương pháp thống kê mô tả và phân tích so sánh được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của du khách, cơ cấu chi tiêu và xu hướng dịch chuyển dòng khách theo chuỗi thời gian 5 năm, tạo nền tảng định lượng vững chắc cho các đề xuất chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tiềm năng tài nguyên của ATK Định Hóa vô cùng phong phú nhưng mức độ phân tán cao. Trên tổng số 108 điểm di tích, huyện Định Hóa có 14 điểm di tích quốc gia và 6 điểm di tích cấp tỉnh trải rộng trên 24 xã, thị trấn. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch chỉ tập trung cục bộ tại 3 điểm chính gồm Đèo De - Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồi Tỉn Keo và đồi Khau Tý, khiến hơn 80% số điểm di tích còn lại rơi vào tình trạng vắng bóng du khách.

Thứ hai, cơ cấu vốn đầu tư chưa có sự cân đối giữa bảo tồn và dịch vụ du lịch. Giai đoạn 2006 – 2010, tổng ngân sách nhà nước cấp cho ATK Định Hóa đạt 790 triệu đồng, trong đó 650 triệu đồng (chiếm 82,27%) dành riêng cho trùng tu, tôn tạo di tích chính, trong khi kinh phí đầu tư cho dịch vụ du lịch, đào tạo hướng dẫn viên và xây dựng homestay cộng đồng chỉ đạt 140 triệu đồng (chiếm 17,73%). Sang giai đoạn 2010 – 2015, dù hơn 6 tỷ đồng đã được giải ngân để phục hồi các di tích như Tỉn Keo, Khau Cuội và Ban Kiểm tra Trung ương, các hạng mục phụ trợ đón tiếp và bãi đỗ xe vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu.

Thứ ba, cơ cấu tổ chức và nhân sự tại Ban quản lý còn nhiều điểm nghẽn. Tổng số cán bộ, viên chức năm 2014 là 64 người (41 biên chế sự nghiệp, 23 hợp đồng), trong đó 70% có trình độ đại học và 77% (49 người) là đồng bào dân tộc Tày. Mặc dù trình độ văn hóa chung tương đối cao, lực lượng chuyên trách du lịch lại thiếu hụt nghiêm trọng: chỉ có 11 thuyết minh viên phụ trách 108 điểm di tích, 1 cán bộ chuyên trách xúc tiến du lịch và 3 nhân viên phụ trách vệ sinh môi trường cho toàn bộ quần thể.

Thứ tư, sự liên kết giữa di tích cách mạng với tài nguyên văn hóa, sinh thái bản địa chưa chặt chẽ. Huyện Định Hóa sở hữu làng nghề dệt mành cọ Làng Bầng với 27 trên 61 hộ làm nghề, vùng chè an toàn VietGAP xã Trung Hội đạt tỷ lệ 90% hộ tham gia, cùng các di sản phi vật thể đặc sắc như múa rối cạn Thẩm Rộc và lễ hội Lồng Tồng mùng 10 tháng Giêng. Tuy nhiên, các giá trị này vẫn tồn tại độc lập, chưa được tích hợp thành chuỗi sản phẩm trải nghiệm hoàn chỉnh cho du khách.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế trong phát triển du lịch tại ATK Định Hóa bắt nguồn từ tính chất đặc thù của loại hình di tích lịch sử cách mạng. Các di tích kháng chiến thường nằm ở địa hình đồi núi hiểm trở, kiến trúc đơn sơ bằng tranh tre nứa lá, thiếu yếu tố huyền bí tâm linh nên khó thu hút dòng khách tự do nếu không có phương pháp thuyết minh sống động.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế tại Căn cứ địa Diên An (Trung Quốc) – nơi đón 14,5 triệu lượt khách năm 2010, mang lại doanh thu 7,65 tỷ Nhân dân tệ và đóng góp 30% GDP địa phương nhờ mô hình trải nghiệm làm nông dân và lưu trú nhà hầm – có thể thấy ATK Định Hóa chưa khai thác tốt yếu tố trải nghiệm đời sống kháng chiến. So sánh trong nước với Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) đón hơn 300.000 lượt khách chỉ trong những tháng đầu năm 2014, hay Địa đạo Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh) với các dịch vụ bắn súng thể thao và ẩm thực thời chiến, ATK Định Hóa đang thiếu các sản phẩm du lịch tương tác cao.

Dữ liệu khảo sát của luận văn có thể được trực quan hóa thông qua hệ thống biểu đồ và bảng phân tích: Biểu đồ hình quạt minh họa cơ cấu ngân sách đầu tư giai đoạn 2006 – 2010 thể hiện rõ tỷ lệ áp đảo 82,27% cho tu bổ công trình so với 17,73% cho phát triển du lịch; Sơ đồ phân vùng không gian đề xuất chia 108 điểm di tích thành 3 cụm liên kết gắn với hệ sinh thái rừng Đèo De và đồi chè VietGAP; Bảng đối sánh mức độ hài lòng của 200 du khách chỉ ra rằng điểm nghẽn lớn nhất nằm ở dịch vụ ẩm thực địa phương và tính đa dạng của quà lưu niệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế quản lý và tái cơ cấu nguồn vốn đầu tư. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Ban quản lý Khu di tích ATK Định Hóa cần điều chỉnh tỷ trọng phân bổ ngân sách giai đoạn 2016 – 2020, nâng tỷ lệ đầu tư cho hạ tầng dịch vụ du lịch lên mức 30 – 35% tổng nguồn vốn, thay vì mức 17,73% trước đây. Cần sớm thành lập bộ phận Marketing và Xúc tiến du lịch độc lập trực thuộc Ban quản lý nhằm vận hành chuyên nghiệp các kênh truyền thông số.

Thứ hai, quy hoạch không gian bảo tồn gắn với phát triển sản phẩm du lịch trải nghiệm. Ban quản lý cần phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai phân vùng 3 cụm di tích trọng điểm: Cụm trung tâm Đèo De - Phú Đình (chuyên đề di tích Bác Hồ và du lịch sinh thái), Cụm Điềm Mặc - Thanh Định (chuyên đề Trung ương Đảng và trải nghiệm văn hóa Tày), Cụm Chợ Chu - Bảo Linh (chuyên đề Quân đội và di tích thắng cảnh Chùa Hang). Mục tiêu trong giai đoạn 2016 – 2018 là xây dựng 4 tour du lịch chuyên đề có độ dài 1 đến 2 ngày, tăng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 0,8 ngày lên 1,5 ngày.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch. Ban quản lý cần triển khai kế hoạch đào tạo lại cho toàn bộ 64 cán bộ nhân viên trong lộ trình 2016 – 2020. Cần tuyển dụng bổ sung để nâng đội ngũ thuyết minh viên từ 11 người lên 25 người, đạt chuẩn 100% có chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh hoặc tiếng Pháp và nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch di sản, đồng thời tăng mức phụ cấp thu hút lao động chuyên môn cao lên 30% lương cơ bản.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết vùng và xã hội hóa xúc tiến quảng bá. Doanh nghiệp lữ hành và các cơ quan quản lý cần phối hợp xây dựng tuyến du lịch đỏ liên tỉnh Chiến khu Việt Bắc kết nối ATK Định Hóa (Thái Nguyên) – ATK Tân Trào (Tuyên Quang, diện tích 561,1 km2) – ATK Chợ Đồn (Bắc Kạn). Đồng thời, đưa các sản phẩm làng nghề truyền thống như mành cọ Làng Bầng và chè VietGAP xã Trung Hội vào hệ thống quà tặng lưu niệm đạt chuẩn OCOP, phấn đấu tăng mức chi tiêu bình quân của mỗi lượt khách lên 30% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý di tích: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh vùng Chiến khu Việt Bắc cùng ban quản lý 108 điểm di tích có thể sử dụng khung giải pháp về cơ chế chính sách, định hướng quy hoạch phân cụm và mô hình phân bổ ngân sách để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về di sản.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành và dịch vụ du lịch: Các công ty du lịch trong và ngoài tỉnh có thể khai thác hệ thống dữ liệu khảo sát từ 200 du khách để xây dựng các chương trình tour học tập lịch sử, du lịch về nguồn kết hợp trải nghiệm văn hóa bản địa cho học sinh, sinh viên, cựu chiến binh và du khách quốc tế.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Những người làm việc trong khối ngành Du lịch học, Quản lý văn hóa, Việt Nam học và Lịch sử Đảng có thể tham khảo luận văn như một tài liệu học thuật giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa bảo tồn tích cực di sản cách mạng với kinh tế du lịch.

Nhóm cộng đồng địa phương và hợp tác xã làng nghề: Cư dân tại 24 xã, thị trấn thuộc huyện Định Hóa, đặc biệt là các hộ dân làm chè tại Quỳnh Hội và dệt mành cọ Làng Bầng, có thể ứng dụng các đề xuất về mô hình du lịch cộng đồng (homestay) để chuyển đổi sinh kế, tăng thêm thu nhập từ việc phục vụ du khách.

Câu hỏi thường gặp

Di tích lịch sử cách mạng có những đặc thù gì khác biệt so với các di tích văn hóa lịch sử thông thường?

Di tích lịch sử cách mạng là loại hình di sản phản ánh các sự kiện đấu tranh giải phóng dân tộc, thường có kiến trúc đơn sơ như hang đá, lán gỗ, nhà dân và phân bố ở địa bàn vùng núi xa xôi. Loại hình này không mang tính tâm linh tín ngưỡng mà mang giá trị giáo dục truyền thống, do đó việc thu hút 100% nguồn vốn xã hội hóa thường gặp nhiều khó khăn hơn các di tích đền, chùa.

Mối quan hệ giữa bảo tồn tích cực và phát triển du lịch tại ATK Định Hóa được thể hiện như thế nào?

Bảo tồn tích cực là phương thức đưa di tích vào đời sống đương đại thông qua du lịch. Khi du lịch phát triển, dòng tiền thu từ dịch vụ sẽ hỗ trợ tái đầu tư cho 108 điểm di tích, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, du khách đến tham quan sẽ trở thành chủ thể lan tỏa giá trị lịch sử và nâng cao ý thức giữ gìn di sản cho cộng đồng.

Thực trạng nguồn nhân lực tại Ban quản lý Khu di tích ATK Định Hóa đang đối mặt với thách thức gì?

Khảo sát trên 64 cán bộ năm 2014 cho thấy dù 70% có bằng đại học và 77% là người dân tộc Tày am hiểu địa phương, đội ngũ thuyết minh viên chỉ có 11 người cho 108 điểm di tích và chỉ có 1 cán bộ chuyên trách xúc tiến du lịch. Vị trí địa lý vùng núi và mức thu nhập chưa cao là rào cản lớn trong việc thu hút nhân lực du lịch chất lượng cao.

Bài học kinh nghiệm từ mô hình Căn cứ địa Diên An có thể áp dụng cho ATK Định Hóa ra sao?

Diên An đón 14,5 triệu lượt khách năm 2010 nhờ kết hợp di tích cách mạng với trải nghiệm nông nghiệp và văn hóa dân gian Thiểm Bắc. ATK Định Hóa hoàn toàn có thể học tập mô hình này bằng cách tích hợp tour tham quan đồi Tỉn Keo, Khau Tý với hoạt động thu hái chè VietGAP tại Trung Hội, dệt mành cọ Làng Bầng và thưởng thức ẩm thực cơm lam Định Hóa.

Giải pháp nào giúp tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của du khách tại ATK Định Hóa?

Để tăng thời gian lưu trú vượt qua mức 0,8 ngày hiện nay, Ban quản lý cần liên kết với các công ty lữ hành xây dựng các tour 2 ngày 1 đêm kết hợp xem biểu diễn rối cạn Thẩm Rộc, trải nghiệm lễ hội Lồng Tồng, và phát triển các sản phẩm lưu niệm đặc trưng từ gỗ mỹ nghệ và chè xanh Thái Nguyên đạt chuẩn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về bảo tồn tích cực và phát triển du lịch bền vững tại 108 điểm di tích lịch sử cách mạng ATK Định Hóa.
  • Nghiên cứu đã chỉ ra sự mất cân đối lớn trong cơ cấu ngân sách giai đoạn 2006 – 2010 khi 82,27% vốn tập trung cho tu bổ và chỉ 17,73% cho phát triển du lịch, dẫn đến sự đơn điệu về sản phẩm.
  • Đánh giá thực trạng 64 cán bộ cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng về lực lượng chuyên trách thị trường du lịch, đồng thời khẳng định tiềm năng lớn từ 77% nhân sự là đồng bào Tày am hiểu văn hóa bản địa.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch không gian 3 cụm di tích, đổi mới sản phẩm "di tích sống", chuẩn hóa nhân sự và liên kết tam giác di sản ATK Định Hóa – ATK Tân Trào – ATK Chợ Đồn.
  • Lộ trình thực hiện phân kỳ cụ thể từ 2016 đến 2020 sẽ là cơ sở khoa học quan trọng để các cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành thúc đẩy du lịch ATK Định Hóa phát triển bứt phá.

Các cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp lữ hành quan tâm đến mô hình phát triển du lịch di sản cách mạng hãy liên hệ và khai thác toàn văn công trình để cùng chung tay bảo tồn và lan tỏa giá trị lịch sử hào hùng của Thủ đô kháng chiến ATK Định Hóa.