Đặt vấn đề Trong nhiều thập kỷ vừa qua, đặc biệt là từ những năm 1950 trở lại đây, du lịch toàn cầu đã phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân về lượng khách là 6,9%/năm; về doanh thu là 11,8%/năm và đã trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu trên thế giới (Nguồn: báo cáo tổng hơp: Du lịch Bền Vững - Tổng cục du lịch). Du lịch nói chung và du lịch bền vững (DLBV) nói riêng đã và đang phát triển nhanh chóng không những ở Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn cầu. Đặc biệt trong những năm gần đây, sự phát triển du lịch theo xu thế phát triển bền vững như là một hiện tượng và một xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là loại hình du lịch có trách nhiệm, hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa, phát triển cộng đồng, đồng thời đem lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh của Tây Nguyên và là một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội và du lịch; là một hạt nhân kinh tế quan trọng của Tây Nguyên.
Nằm trong tỉnh Đắk Lắk, huyện Krông Bông là một huyện có nhiều khu cảnh quan tự nhiên hấp dẫn như: VQG Chư Yang Sin, thác Krông Kmar, Hang đá Đắk Tuar…., đang ngày càng được quan tâm trong sử dụng để đầu tư cho phát triển du lịch vì sự phong phú của tự nhiên, sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan đẹp. Chúng được coi là nền tảng cho sự phát triển du lịch nói chung và nhất là phát triểnt DLBV do đó đã mang lại lợi ích rất lớn, rất rõ rệt về mặt kinh tế và xã hội nhưng đồng thời lại đảm bảo được mục tiêu phát triển bền vững. Cho đến nay, việc phát triển du lịch đã đưa lại cả những thay đổi tích cực và tiêu cực tới các khu vực có hoạt động du lịch phát triển, những thay đổi này liên quan đến thiên nhiên và môi trường, đến nền kinh tế và văn hoá xã hội của cộng đồng địa phương. Mặc dù không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực, nhưng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngày càng có nhiều minh chứng cho thấy rằng việc thúc đẩy phát triển du lịch sẽ có rất nhiều tác động tích cực nếu được hướng dẫn và quản lý đúng đắn.
Phát triển du lịch bền vững chính là cơ hội thúc đẩy nền kinh tế phát triển, góp phần nâng cao đời sống kinh tế - văn hoá của cộng đồng và bảo tồn được môi trường nhạy cảm. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên tác giả chọn đề tài: “Cơ sở sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển du lịch bền vững huyện KrôngBông, Tỉnh Đăk Lắk” 2. Mục tiêu, nhiệm vụ *Mục tiêu: Xác lập cơ sở khoa học cho phát triển du lịch tại huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm định hướng phát triển du lịch hướng tới mục tiêu phát triển bền vững * Nội dung nghiên cứu: - Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của huyện cho hoạt động du lịch. - Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch khu vực nghiên cứu dưới góc độ Du Lịch bền vững.
- Cơ hội và những thách thức đối với phát triển du lịch ở Krông Bông - Kiến nghị giải pháp định hướng phát triển du lịch bền vững. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian nghiên cứu của luận văn là khu vực Huyện Krông Bông - Tỉnh Đắk Lắk. - Phạm vi khoa học: luận văn tập trung nghiên cứu cấu trúc sinh thái cảnh quan của huyện từ đó đề xuất định hướng phát triển du lịch bền vững. Các Phƣơng pháp nghiên cứu 4.
Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu 4. Phương pháp khảo sát thực địa 4. Phương pháp bản đồ và GIS 4. Hệ thống phân loại cảnh quan 4.
Phương pháp phân tích và đánh giá tổng hợp 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ SINH THÁI CẢNH QUAN VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1. Sự phát triển của Sinh thái cảnh quan trên thế giới và ở Việt Nam 1. Sự phát triển của Sinh thái cảnh quan trên thế giới Sinh thái học cảnh quan là một khoa học liên ngành nghiên cứu về CQ, đặc biệt là về thành phần, cấu trúc, chức năng của CQ. Sinh thái học cảnh quan nghiên cứu các mô hình CQ, mối quan hệ tác động giữa các yếu tố trong mô hình đó, và cách thức thay đổi của mô hình CQ theo thời gian, cũng như các nguyên tắc ứng dụng trong quá trình con người cải biến CQ.
Đã có rất nhiều những nghiên cứu sinh thái cảnh quan nhưng trước hết phải kể đến các nghiên cứu của Wu.Hobbs từ cuối thế kỷ XIX. Sinh thái học cảnh quan là khoa học nghiên cứu và cải thiện các mối quan hệ giữa quá trình phát triển đô thị và hệ sinh thái trong môi trường với các hệ sinh thái đặc trưng. Hai ông cũng chỉ rõ đặc điểm nổi bật nhất của hệ STCQ là sự nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa các quá trình, mô hình và quy mô, cũng như tập trung vào các vấn đề sinh thái và môi trường trên quy mô rộng. Các chủ đề nghiên cứu quan trọng trong hệ STCQ bao gồm sự thay đổi của hệ sinh thái trong cảnh quan, sử dụng đất và thay đổi độ che phủ đất, nhân rộng mô hình phân tích CQ có liên quan với quá trình sinh thái, bảo tồn CQ và tính bền vững CQ [9,11,28,30].
Thuật ngữ Sinh thái cảnh quan được Carl Troll nhà địa lý học người Đức đưa ra năm 1939, Ông đã phát triển nhiều khái niệm cơ sở cho khoa học STCQ từ việc phân tích ảnh hàng không để nghiên cứu tương tác giữa môi trường và thảm thực vật [11,29]. Từ năm 1939 đến 1970, việc nghiên cứu về STCQ trên nền tảng của Địa lý học dựa trên việc nghiên cứu các thành phần địa lý đã phát triển mạnh ở Đông Âu, Canađa và Úc. Sau đó được các nhà nghiên cứu của Nga và Canada ứng dụng để nghiên cứu sinh thái các khu vực rộng lớn, thành lập bản đồ hệ sinh thái, xây dựng các hệ thống CQ ở Nga. Sau năm 1970, STCQ phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu với các công trình nghiên cứu về phân loại thực vật và địa lý khu vực.
Tuy nhiên các nghiên cứu này 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ mới tập trung nghiên cứu sự tác động của con người đối với CQ ở những khu vực nhỏ. Những công trình nghiên cứu của các tên tuổi nổi tiếng thuộc trường phái châu Âu như Carl Troll, Izaak Zonneveld, M.Godron hay Richard Forman đều bắt nguồn từ Địa lý học, chủ yếu dựa trên phân tích ảnh hàng không, nhấn mạnh chủ thể con người trong STCQ ở quy mô nhỏ và vai trò của văn hóa CQ. Ngoài ra, quan niệm về sinh thái học cảnh quan của trường phái châu Âu còn tích hợp cả khoa học sử dụng đất đai. Trường phái này phân loại CQ dựa trên các hệ thống “nhân tạo” được xây dựng sẵn.
Trường phái Tây Âu cũng xuất hiện từ lâu đời, gắn liền với khoa học sinh thái hơn là khoa học cảnh quan [29]. Trong khi đó, trường phái Sinh thái học cảnh quan ở châu Mỹ lại có nhiều điểm tiến bộ hơn khi sử dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu của mình như công nghệ viễn thám, GIS hoặc số liệu thống kê không gian. Đối lập với trường phái châu Âu, đối tượng nghiên cứu của trường phái châu Mỹ là các hệ thống tự nhiên hoặc bán tự nhiên, như các công viên quốc gia. Các lý thuyết và mô hình cũng được đầu tư phát triển.
Trường phái này chỉ phát triển mạnh vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước [30,31]. Đến những năm 1980, STCQ mới phát triển như một khoa học thực sự và được đánh dấu bởi sự ra đời của Hiệp hội quốc tế về Sinh thái cảnh quan (IALE- The International Assosiation of Landscape Ecology) năm 1982. Từ những năm 1985 trở lại đây STCQ phát triển một cách nhanh chóng, có tầm ảnh hưởng đến sự phát triển KT-XH với một số lượng lớn các công trình nghiên cứu cả lý thuyết và ứng dụng trong các ngành sản xuất. Lý thuyết STCQ nhấn mạnh vai trò của các tác động của con người trong cấu trúc và chức năng CQ.
Đồng thời cũng đề xuất các phương pháp để khôi phục lại CQ bị suy thoái và nhận thức một cách rõ ràng STCQ bao gồm cả con người như những thực thể gây ra sự thay đổi trong CQ [9,12,26]. Từ việc nghiên cứu các đặc trưng quan trọng của STCQ là cấu trúc và chức năng (Forman và Godron năm 1986), đến nghiên cứu xây dựng các cách phân loại chức năng CQ (De Groot năm 1992)[28], xây dựng bản đồ các vùng sinh thái ở các nước Hà Lan, Hoa Kỳ, Mêxicô, Canađa,… đến nay Sinh thái học cảnh quan đi sâu 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào nghiên cứu ĐGCQ, tìm ra các mối liên hệ trong cấu trúc và chức năng CQ, phân tích tính đa dạng và đánh giá giá trị sử dụng của các đơn vị CQ (Troy và Wilson năm 2006, Meyer và Grabaum năm 2008), Sinh thái cảnh quan ngày nay gắn liền nghiên cứu với ứng dụng thực tiễn [25,26,28,30]. Từ những năm 1990 trở lại đây: Nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng của STCQ tiếp tục phát triển mạnh mẽ theo xu hướng ứng dụng cảnh quan vào bảo vệ môi trường dựa trên công nghệ nghiên cứu tiên tiến và hiện đại như Viễn thám, GIS, các mô hình không gian để thành lập bản đồ CQ, bản đồ ĐGCQ. Sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng trong phân tích, ĐGCQ mang lại các kết quả chính xác về các dữ liệu đất, các yếu tố khí hậu, thảm thực vật và có giá trị thực tiễn lớn 1.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu sinh thái cảnh quan ở Việt Nam Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu CQ chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận khoa học Cảnh quan của các nhà địa lý Xô Viết, tùy vào từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà khoa học địa lý nói chung và nghiên cứu cảnh quan nói riêng có sự vận dụng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn.