Tổng quan nghiên cứu

Du lịch toàn cầu trong nhiều thập kỷ qua duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân về lượng khách đạt 6,9%/năm và doanh thu tăng 11,8%/năm, khẳng định vị thế ngành kinh tế mũi nhọn. Tại Việt Nam, xu hướng phát triển du lịch bền vững gắn liền với bảo tồn sinh thái đang trở thành định hướng chiến lược. Huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk sở hữu diện tích tự nhiên 1.259,23 km2 tương đương 125.923 ha, nắm giữ vị trí quan trọng trong không gian sinh thái vùng Tây Nguyên với các danh thắng nổi tiếng như Vườn quốc gia Chư Yang Sin, thác Krông Kmar và hang đá Đắk Tuar.

Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại địa phương vẫn còn sơ khai, chỉ đón khoảng 10.000 lượt khách/năm, trong đó khách quốc tế chiếm tỷ lệ khiêm tốn 0,5%. Thực trạng này tạo ra mâu thuẫn lớn giữa tiềm năng tự nhiên phong phú và hiệu quả kinh tế thu về. Áp lực sinh kế từ dân số 88.183 người với 90% lao động phụ thuộc vào nông - lâm nghiệp đang đe dọa trực tiếp đến diện tích 80.390,13 ha rừng tự nhiên.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xác lập cơ sở khoa học sinh thái cảnh quan nhằm đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển du lịch bền vững cho huyện Krông Bông. Phạm vi không gian bao quát toàn bộ 1 thị trấn và 13 xã thuộc huyện, với dữ liệu kinh tế - xã hội và tài nguyên được tổng hợp chi tiết từ giai đoạn 2005 đến năm 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp bộ công cụ phân tích không gian hỗ trợ bảo vệ độ che phủ rừng 70,5%, đồng thời tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology) khởi nguồn từ Carl Troll năm 1939 và được phát triển hoàn thiện bởi Forman và Godron năm 1986. Lý thuyết này tập trung vào 3 đặc trưng cốt lõi: cấu trúc không gian, chức năng sinh thái và sự biến đổi của các thể khảm cảnh quan theo thời gian. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết Du lịch bền vững theo khung hành động Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21 for Travel & Tourism) năm 1996 và định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới năm 1992.

Mô hình nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm nền tảng:

  • Sinh thái cảnh quan: Mối quan hệ tương tác giữa các kiểu phân bố không gian và các quá trình sinh thái.
  • Đánh giá cảnh quan: Xác định mức độ thuận lợi của các thể tổng hợp tự nhiên cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội.
  • Sức chứa du lịch: Giới hạn chịu tải của hệ sinh thái dựa trên 5 khía cạnh bao gồm vật lý, sinh học, tâm lý, xã hội và quản lý.
  • Du lịch bền vững: Sự phát triển cân bằng đồng thời 3 trụ cột kinh tế, môi trường và xã hội văn hóa bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng gồm bản đồ địa hình, bản đồ thổ nhưỡng, số liệu khí tượng thủy văn lượng mưa 1.800 - 2.200 mm/năm và các báo cáo hiện trạng kinh tế - xã hội của 14 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn.

Phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa được thực hiện theo phương pháp phân tầng có chủ đích, bao phủ toàn diện 3 dạng địa hình chính: vùng núi cao hiểm trở, vùng đồi núi thấp lượn sóng và vùng thung lũng bằng phẳng ven sông. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm hàng chục điểm đo đạc thực địa và các tuyến sinh thái trọng điểm chạy dọc lưu vực sông Krông Ana, sông Krông Bông và Vườn quốc gia Chư Yang Sin.

Nghiên cứu ứng dụng Hệ thống phân loại cảnh quan nhiệt đới gió mùa của Phạm Hoàng Hải và các cộng sự năm 1997 với cấu trúc 7 cấp phân vị từ Hệ thống, Phụ hệ thống, Lớp, Phụ lớp, Kiểu, Phụ kiểu đến Loại cảnh quan. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích không gian GIS kết hợp đánh giá đa tiêu chí là vì phương pháp này cho phép chồng xếp các lớp dữ liệu định lượng về độ dốc, 4 nhóm đất chính với 15 loại đất, điều kiện vi khí hậu và giá trị nhân văn trên bản đồ tỷ lệ 1:50.000, giúp đưa ra kết quả phân hạng cảnh quan chính xác và trực quan. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và xử lý bản đồ được thực hiện xuyên suốt trong giai đoạn 2010 - 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc địa hình và cảnh quan huyện Krông Bông có sự phân hóa đai cao sâu sắc từ Đông Nam xuống Tây Bắc. Dạng địa hình núi cao chiếm diện tích lớn với độ dốc trên 25 độ, tập trung các đỉnh núi hùng vĩ như Chư Yang Sin cao 2.442m, đỉnh Chư Yang Hanh cao 1.991m và Cư Bukso cao 1.538m. Dạng núi thấp có độ cao 500 - 1.000m phân bố ở phía Bắc, trong khi dải thung lũng ven sông có độ cao dưới 500m với độ dốc thoải dưới 8 độ, thích hợp cho việc bố trí hạ tầng du lịch.

Thứ hai, giá trị đa dạng sinh học của cảnh quan tự nhiên đạt mức đặc biệt cao. Vườn quốc gia Chư Yang Sin sở hữu diện tích 58.947 ha (vùng đệm 183.479 ha) lưu giữ 887 loài thực vật bậc cao thuộc 591 chi, trong đó có 55 loài trong Sách đỏ Việt Nam. Nơi đây quy tụ 20 loài hạt trần, riêng 11 loài thông chiếm trên 33% tổng số loài thông cả nước như Thông hai lá dẹt, Thông Đà Lạt và Pơ mu. Về động vật, khu bảo tồn ghi nhận 64 loài thú, 258 loài chim và nhiều loài đặc hữu quý hiếm như Vượn đen má vàng, Chà vá chân đen.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch nhưng tỷ trọng du lịch dịch vụ còn thấp. Năm 2010, tổng giá trị sản xuất toàn huyện đạt 1.665,39 tỷ đồng (tăng 3,45 lần so với năm 2005). Tuy nhiên, tỷ trọng nông - lâm - thủy sản vẫn chiếm 54,38%, thương mại - dịch vụ chiếm 26,87% và công nghiệp - xây dựng chiếm 18,75%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 13,23 triệu đồng/năm.

Thứ tư, kết quả đánh giá thích nghi cảnh quan chỉ ra các đơn vị cảnh quan có mức độ thuận lợi cao cho du lịch tập trung tại khu vực Thác Krông Kmar, Hang đá Đắk Tuar và phân khu hành chính Vườn quốc gia Chư Yang Sin.

Thảo luận kết quả

Các kết quả phân hạng thích nghi cảnh quan có thể được trực quan hóa rõ nét qua bảng ma trận trọng số đa tiêu chí và biểu đồ phân bố diện tích các loại cảnh quan. Dữ liệu bản đồ tỷ lệ 1:50.000 phản ánh rõ mức độ tập trung tài nguyên du lịch dọc theo các dải sinh thái đai cao và thung lũng sông.

Nguyên nhân khiến du lịch Krông Bông chưa phát triển tương xứng với tiềm năng xuất phát từ rào cản hạ tầng giao thông kết nối liên xã còn khó khăn, cơ sở lưu trú quy mô nhỏ lẻ và sản phẩm du lịch đơn điệu. Khoảng cách 50 km đến thành phố Buôn Ma Thuột khiến phần lớn du khách chỉ tham quan đi về trong ngày mà không lưu trú dài ngày.

So sánh với các nghiên cứu sinh thái cảnh quan tại Sa Pa hay vùng núi đá vôi Ninh Bình, nghiên cứu tại Krông Bông khẳng định rằng việc phát triển du lịch sinh thái tại vùng núi cao Nam Trung Bộ phải đặt việc bảo tồn tính nguyên vẹn của 19.401 ha vùng bảo vệ nghiêm ngặt lên ưu tiên hàng đầu, tránh mô hình du lịch ồ ạt gây suy thoái tài nguyên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch phân vùng chức năng sinh thái cho hoạt động du lịch. Phân định rõ 19.401 ha vùng bảo vệ nghiêm ngặt chỉ dành cho nghiên cứu khoa học và bảo tồn nguồn gen; 39.526 ha phân khu phục hồi sinh thái cho phép khai thác du lịch sinh thái hạn chế; và 20 ha khu hành chính - dịch vụ để xây dựng trung tâm đón tiếp du khách. Chỉ tiêu kiểm soát là 100% các điểm du lịch phải tuân thủ nghiêm ngặt ngưỡng sức chứa sinh thái trong giai đoạn 2015 - 2020 do Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông phối hợp với Ban quản lý Vườn quốc gia Chư Yang Sin thực hiện.

Thứ hai, thiết kế các tuyến điểm du lịch đặc thù gắn với cảnh quan tự nhiên. Xây dựng 3 tuyến du lịch trọng điểm: Tuyến du lịch sinh thái mạo hiểm chinh phục đỉnh Chư Yang Sin 2.442m; Tuyến tham quan thắng cảnh nghỉ dưỡng Thác Krông Kmar kết hợp hồ thủy điện 82 ha; Tuyến du lịch về nguồn lịch sử văn hóa Hang đá Đắk Tuar kết hợp trải nghiệm buôn làng người M'Nông và Ê Đê. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ dưới 1 ngày lên 2,5 ngày trước năm 2022 do Phòng Văn hóa - Thông tin huyện và các doanh nghiệp lữ hành chủ trì.

Thứ ba, nâng cấp hạ tầng giao thông và đào tạo nhân lực bản địa. Triển khai nâng cấp đồng bộ 10,5 km đoạn Quốc lộ 27 chạy qua huyện cùng Tỉnh lộ 9 và Tỉnh lộ 12; đầu tư mạng lưới cơ sở lưu trú đạt chuẩn sinh thái từ 200 đến 300 phòng. Đào tạo chuyên môn và ngoại ngữ cho 500 lao động là người dân tộc thiểu số tại chỗ. Mục tiêu nâng tỷ lệ khách quốc tế từ 0,5% lên 5% vào năm 2025 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk điều phối.

Thứ tư, thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích cộng đồng và quỹ bảo tồn. Trích từ 15% đến 20% doanh thu phí tham quan du lịch tái đầu tư cho công tác giao khoán bảo vệ 80.390,13 ha rừng, tạo sinh kế bền vững giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo thiếu ăn từ mức 23% xuống dưới 10% do chính quyền 13 xã cùng cộng đồng 25 dân tộc phối hợp vận hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Lắk, Ủy ban nhân dân huyện Krông Bông. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu không gian và hệ thống bản đồ cảnh quan phục vụ trực tiếp công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tổng thể.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Các công ty du lịch sinh thái, đơn vị đầu tư hạ tầng nghỉ dưỡng xanh. Luận văn gợi mở các tour tuyến tiềm năng, đánh giá chính xác tính nhạy cảm môi trường và tính toán sức chứa của các điểm đến.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Các nhà khoa học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Địa lý tự nhiên, Sinh thái học. Tài liệu là nguồn tham khảo phương pháp luận chuẩn mực về ứng dụng hệ thống phân loại cảnh quan 7 cấp của Phạm Hoàng Hải và kỹ thuật phân tích GIS.

Nhóm ban quản lý rừng đặc dụng và các tổ chức bảo tồn: Ban quản lý Vườn quốc gia Chư Yang Sin và các tổ chức bảo vệ thiên nhiên. Đề tài cung cấp giải pháp dung hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học 887 loài thực vật với tạo sinh kế du lịch cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp tiếp cận sinh thái cảnh quan mang lại lợi ích gì cho việc phát triển du lịch huyện Krông Bông? Sinh thái cảnh quan phân tích tổng hợp mối tương tác giữa địa hình, đất đai, khí hậu và sinh vật trong không gian 125.923 ha của huyện. Cách tiếp cận này giúp xác định chính xác các điểm cảnh quan nhạy cảm, từ đó định hướng loại hình du lịch phù hợp mà không phá vỡ cân bằng sinh thái.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có tiềm năng sinh thái nổi bật nào để thu hút du khách? Chư Yang Sin sở hữu đỉnh núi cao nhất Nam Trung Bộ đạt 2.442m, hệ sinh thái rừng nhiệt đới thường xanh với 887 loài thực vật bậc cao và 11 loài thông quý hiếm chiếm trên 33% số loài thông cả nước. Đây là điểm đến lý tưởng cho du lịch nghiên cứu khoa học, trekking và khám phá đa dạng sinh học.

Tại sao du lịch Krông Bông chỉ đón khoảng 10.000 lượt khách mỗi năm dù giàu tài nguyên? Nguyên nhân cốt lõi là hạ tầng giao thông liên xã còn hạn chế, các cơ sở lưu trú và dịch vụ giải trí nghèo nàn. Du khách sau khi tham quan Thác Krông Kmar hay Hang Đắk Tuar thường quay trở lại nghỉ đêm tại Buôn Ma Thuột cách đó 50 km, khiến doanh thu du lịch bị thất thoát.

Hệ thống phân loại cảnh quan nào được áp dụng để lập bản đồ du lịch Krông Bông? Nghiên cứu áp dụng hệ thống phân loại cảnh quan nhiệt đới gió mùa của Phạm Hoàng Hải năm 1997 với 7 cấp phân vị chi tiết, kết hợp dữ liệu 4 nhóm đất và vi khí hậu để biên tập bản đồ đánh giá cảnh quan tỷ lệ 1:50.000 bằng công nghệ GIS hiện đại.

Cộng đồng 25 dân tộc tại Krông Bông đóng vai trò gì trong định hướng du lịch bền vững? Đồng bào các dân tộc như Ê Đê và M'Nông nắm giữ các giá trị văn hóa bản địa đặc sắc. Việc thu hút người dân tham gia làm hướng dẫn viên và cung cấp dịch vụ homestay giúp họ nâng cao thu nhập từ mức 13,23 triệu đồng/năm, đồng thời nâng cao ý thức giữ gìn 80.390,13 ha rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện cấu trúc tự nhiên, địa hình và hiện trạng kinh tế - xã hội của 125.923 ha lãnh thổ huyện Krông Bông.
  • Thiết lập thành công bản đồ phân loại cảnh quan tỷ lệ 1:50.000 dựa trên hệ thống 7 cấp phân vị khoa học.
  • Đánh giá định lượng tiềm năng tài nguyên của Vườn quốc gia Chư Yang Sin với 887 loài thực vật và đỉnh cao 2.442m.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn phát triển du lịch với bảo tồn 70,5% tỷ lệ che phủ rừng và nâng cao sinh kế cho 25 dân tộc anh em.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho lộ trình quy hoạch du lịch sinh thái bền vững giai đoạn 2015 - 2025 tại tỉnh Đắk Lắk.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến mô hình phát triển sinh thái cảnh quan hãy khai thác sâu các dữ liệu chuyên ngành trong luận văn để hiện thực hóa các giải pháp bảo tồn và phát triển du lịch bền vững tại vùng Tây Nguyên.