Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 1. Khái niệm phát triển du lịch 1. Tăng trưởng và phát triển Nếu xét ở góc độ tổng thể của nền kinh tế, “Tăng trưởng kinh tế” là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Còn “Phát triển kinh tế” được hiểu là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống[1]. Nếu xét ở góc độ ngành kinh tế, phát triển được hiểu là sự gia tăng tổng sản lượng hoặc giá trị sản lượng sản xuất của ngành hoặc gia tăng mức độ đóng góp giá trị sản lượng của ngành cho nền kinh tế đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành. Phát triển du lịch Du lịch là ngành dịch vụ hoạt động trong nền kinh tế nhằm thỏa mãn những nhu cầu vui chơi giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, các nét đẹp văn hóa…của dân cư các miền khác nhau trên thế giới để thu được lợi nhuận.
Vì vậy, việc đẩy mạnh phát triển du lịch thường được các quốc gia trên thế giới quan tâm đề cao vì tính hiệu quả của nó, đôi khi nó còn được gọi là “nền công nghiệp không khói”. Trên cơ sở khái niệm tăng trưởng và phát triển đã được giới thiệu ở trên, ta có thể đi đến việc xác lập nội hàm của phát [1] Samuelson Paul A., Nordhalls William D, Kinh tế học, NXB Tài chính (2007). Luan van 8 triển du lịch như sau: Đó là sự gia tăng sản lượng và doanh thu cùng mức độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch. Khách du lịch: Là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cư trú.
Theo khoản 2 Điều 4 Luật Du lịch của nước ta, khách du lịch là người đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Điều 34 Luật Du lịch quy định khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
Sản phẩm du lịch: là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều yếu tố hợp thành, cung cấp cho thị trường chủ yếu ở các mặt: nhà ở, giao thông du lịch, cung cấp ăn uống, du ngoạn tham quan, hạng mục vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, tuyến du lịch, sắp xếp chương trình và các dịch vụ chuyên môn khác. Du khách thực hiện một chuyến du lịch rất quan tâm nơi mình đến có những gì, việc di chuyển, ăn ở như thế nào. Doanh nghiệp du lịch sẽ cung cấp cho du khách theo nhu cầu, đó chính là sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch có các đặc điểm sau: Bộ phận dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong sản phẩm du lịch như vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí.
Hoạt động du lịch của du khách trước tiên phải thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu ăn, uống, đi lại. Do vậy trong sản phẩm du lịch, các dịch vụ trên tất yếu chiếm tỷ trọng cao. Sản phẩm du lịch do nhiều nhà cung ứng cùng tham gia tạo ra. Đặc điểm của kinh tế du lịch là tính đa ngành như giao thông, ngân hàng, văn Luan van 9 hóa.
Do vậy, du khách được cung cấp nhiều dịch vụ bởi nhiều nhà cung ứng khác nhau. Sản phẩm du lịch thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng đặc biệt, nhu cầu thứ yếu, cao cấp của du khách. Du khách mong muốn nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn trong chuyến đi, do vậy các dịch vụ của doanh nghiệp du lịch mang lại phải thỏa mãn tối đa về mặt tinh thần cho du khách. Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể nên không thể đặt ra vấn đề nhãn hiệu như hàng hóa thông thường.
Và đồng thời sản phẩm du lịch rất dễ bị bắt chước, dễ dàng bị sao chép. Do tính chất không cụ thể mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua và gây khó khăn cho du khách khi lựa chọn sản phẩm, vì vậy kênh quảng bá thương hiệu của sản phẩm du lịch có vị trí quan trọng là sự lan truyền từ người tiêu dùng trước, cũng như vấn đề quảng cáo. Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp, được biểu hiện ở chỗ sản phẩm du lịch hoàn chỉnh không chỉ là sự kết hợp các loại dịch vụ, hàng hóa của nhà cung ứng du lịch mà còn liên quan tới rất nhiều ngành nghề khác và các nhà cung cấp dịch vụ công. Việc kết hợp một cách hữu cơ các sản phẩm đơn lẻ mới có thể tạo ra sản phẩm du lịch phù hợp với tính tổng hợp của nhu cầu trong quá trình du lịch của khách.
Thị trường du lịch: Thị trường du lịch được quan niệm là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế thể hiện ra trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch. Dựa trên các tiêu chí khác nhau và vì mục đích nghiên cứu khác nhau mà du lịch thường được phân chia thành các loại hình như: Căn cứ theo sở thích nhu cầu làm nảy sinh chuyến đi du lịch có loại hình du lịch nghỉ ngơi giải trí, chữa bệnh, hành hương tôn giáo, sinh thái, văn hóa, tìm hiểu lịch sử, thể thao,. Căn cứ vào nơi tham quan có du lịch nghỉ biển, nghỉ núi, tham quan danh thắng, di tích. Luan van 10 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi có loại hình du lịch nội địa, loại hình du lịch quốc tế 1.
Tiêu chí đánh giá trình độ phát triển du lịch Trình độ phát triển du lịch thường được biểu thị thông qua các tiêu chí sau đây: a) Các tiêu chí đánh giá quy mô phát triển: + Quy mô buồng phòng: Sự phát triển của kinh tế du lịch cũng được thể hiện khách quan qua số lượng các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Vì kinh tế du lịch phát triển, nguồn cầu cao đòi hỏi phải có lượng cung tương ứng. Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch với những yếu tố bên trong như là nơi đến mới và thú vị, nơi đến có giá cả phù hợp, đảm bảo sự an toàn, có dịch vụ tiện nghi, có bản sắc văn hóa bảo đảm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, thu hút được du khách và phát triển du lịch. + Số lượng khách du lịch: Số lượng du khách gia tăng tại điểm đến phản ánh rằng đó là điểm đến an toàn, sản phẩm du lịch đa dạng thú vị, thỏa mãn nhu cầu của du khách.
Đây chính là sự thể hiện du lịch phát triển Thị trường du khách đa dạng cho thấy sự quảng bá hình ảnh, xúc tiến các hoạt động du lịch được rộng rãi, mở rộng thị trường ra nhiều khu vực, mang hình ảnh của nơi du lịch đến với rộng rãi du khách. Để đạt được điều này, đòi hỏi sự đầu tư rất cao cho công tác, quảng bá, xúc tiến du lịch. + Số ngày khách lưu trú: Du khách lưu trú bao lâu ở điểm đến cho biết mức độ hấp dẫn, lôi kéo của nơi du lịch. Thông thường những nơi đến đáp ứng được sự đa dạng, phong phú, tiện nghi của sản phẩm du lịch sẽ kéo dài sự lưu trú của du khách, tăng nguồn thu cho hoạt động kinh doanh du lịch.
Số ngày lưu trú của khách tăng, khách chi tiêu nhiều hơn và sự cung ứng các dịch vụ càng phải tốt hơn. Luan van 11 + Doanh thu du lịch: Doanh thu du lịch được tổng hợp từ nhiều nguồn thu gồm doanh thu lưu trú, doanh thu ăn uống, doanh thu bán hàng và dịch vụ, doanh thu lữ hành và vận chuyển. Doanh thu du lịch phản ảnh sự phát triển của du lịch không chỉ thể hiện ở số lượng như tỷ trọng thu nhập của ngành so với GDP mà còn phải thể hiện tỷ lệ trên một du khách và cơ cấu của doanh thu. Doanh thu/khách du lịch tăng cho thấy việc tăng chi tiêu của du khách do thỏa mãn nhu cầu của mình về các dịch vụ, điều này có được do doanh nghiệp có sự đầu tư, quan tâm đến hoạt động kinh doanh.
Nhìn tổng thể ngành, đây là thể hiện sự phát triển du lịch. b) Các chỉ tiêu đánh giá về chất lượng phát triển: + Chất lượng cơ sở vật chất kinh doanh: Phát triển du lịch còn được thể hiện qua chỉ tiêu tăng cường chất lượng cơ sở vật chất kinh doanh du lịch. Tiêu chí này thường được thể hiện tổng hợp qua việc xếp hạng “sao“ trong du lịch. Tuy nhiên, hoạt động du lịch không chỉ dừng lại ở hoạt động lưu trú, nghỉ ngơi mà còn được thể hiện tthông qua nhiều hoạt động phong phú khác.
Do đó khi đánh giá chất lượng cơ sở vật chất cho kinh doanh du lịch cũng phải quan tâm đến các cơ sở vật chất khác nữa. Thường việc đánh giá này được tiến hành thông qua các tiêu chí quy định của ngành hoặc của các tổ chức du lịch quốc tế. Ngoài ra, cũng có thể đánh giá thông qua khảo sát ý kiến của khách du lịch và các đối tượng hữu quan. + Chất lượng nguồn nhân lực: Trong những năm gần đây, chất lượng của đội ngũ lao động trong ngành du lịch của Bình Định đã có sự cải thiện và tiến bộ.
Đã phối hợp các trường nghiệp vụ du lịch tổ chức và đào tạo các lớp nghiệp vụ hướng dẫn, khách sạn: buồng, bàn, bar. cho lao động trong ngành. Số cán bộ có trình độ đại học, nhất là đại học chuyên ngành du lịch tăng đều trong những năm gần đây. Luan van 12 + Tính đa dạng của sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng phản ánh sự tìm tòi, nỗ lực phát triển ngành du lịch, tạo nhiều điểm đến, thực sự thu lợi nhiều nhất khi tiếp đón du khách đến tham quan du lịch.