CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI, DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG THU HÚT CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH BẮC GIANG 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài và dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Lý thuyết truyền thống trong kinh tế học cổ điển của A.Ricardo đã giải thích về sự ra đời của thương mại và đầu tư quốc tế.
Cùng với sự phát triển của những hoạt động trao đổi hàng hóa, các quan hệ kinh tế quốc tế cũng ngày càng được mở rộng, đòi hỏi tất yếu phải trao đổi các yếu tố sản xuất như lao động, vốn. Hoạt động đầu tư quốc tế được hình thành đáp ứng những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế quốc gia. Như vậy, đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển vốn từ nước này sang nước khác nhằm mục đích sinh lời. Theo khái niệm của IMF đưa ra năm 1977: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là quá trình mà nhà đầu tư thực hiện công việc đầu tư kinh doanh hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế ở đất nước mình nhằm thu về những lợi ích lâu dài.
Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp”. Hiểu theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra một khái niệm dễ tiếp cận hơn như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều 10 hành để thu lợi trong kinh doanh. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được tiến hành thông qua các dự án - gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài”.
Để thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài, các nhà đầu tư có thể bỏ vốn xây dựng, mua các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để là chủ sở hữu toàn bộ, một phần cơ sở kinh doanh đó, trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản lý điều hành hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Đồng thời, chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án (DA). Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là hoạt động đầu tư, nên nó cũng mang những đặc điểm của hoạt động đầu tư nói chung, với hai đặc trưng quan trọng là tính sinh lãi và tính rủi ro. Ngoài ra, còn có những đặc trưng riêng: Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài.
Đặc điểm này liên quan đến các khía cạnh luật pháp, phong tục tập quán, ngôn ngữ. Đây sẽ là yếu tố làm tăng chi phí, rủi ro đầu tư của các DA FDI; Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý, điều hành các DA FDI; FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ, một phần cơ sở kinh doanh hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp lại; FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn khỏi nước sở tại. Bởi vốn của họ nằm trực tiếp tại nhà xưởng, thiết bị trên đất nước tiếp nhận đầu tư, phải chuyển đổi thành tiền bằng cách bán hoặc thanh lý nhà máy mới thu hồi vốn và chuyển về nước được; FDI không chỉ đơn thuần là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến, những yếu tố này di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thị trường mới cho nước tiếp nhận đầu tư. Các hình thức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Hoạt động thu hút FDI thường được thực hiện thông qua nhiều hình thức, tuỳ theo quy định của pháp luật nước sở tại và thường là: Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC); Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN; Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT), BTO, BT…Tuy nhiên, phổ biến nhất với 2 hình thức: doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN.
Theo Luật Đầu tư 2005 thì: BCC là hình thức đầu tư được ký giữa một hoặc nhiều nhà ĐTNN với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước để tiến hành đầu tư, hợp tác kinh doanh trong đó có quy định về quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh mà không thành lập pháp nhân. Hình thức doanh nghiệp liên doanh là hình thức nhà ĐTNN liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật liên quan. Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT). Hình thức doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là hình thức đầu tư mà nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật liên quan.
Doanh nghiệp là một pháp nhân của Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp GCNĐT. Hình thức BOT là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định của pháp luật có liên quan.
Hoạt động đầu tư thường được thực hiện theo một chương trình đã định sẵn (Dự án đầu tư) trong khoảng thời gian tương đối dài để thu được lợi ích lớn hơn cho nhà đầu tư, cho xã hội. DA đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn vào một đối tượng nhất định, trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định và giải trình kết quả thu được từ hoạt động đầu tư. Việc các nhà ĐTNN bỏ vốn vào đầu tư ở một quốc gia khác thông qua một DA đầu tư gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (DA FDI) Như vậy, “Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là những dự án đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước tiếp nhận đầu tư bỏ vốn đầu tư, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh”. Trong DA FDI các nhà đầu tư có nhiều quốc tịch khác nhau, có thể vốn góp của các nhà ĐTNN đạt 100% vốn pháp định và có sự phân chia kết quả kinh doanh.
Các đặc trưng cơ bản của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài Ngoài những đặc điểm của một DA đầu tư nói chung: là hoạt động bỏ vốn có tính lâu dài, luôn có chi phí và kết quả, là hoạt động mang nặng tính rủi ro, DA FDI có các đặc trưng mang tính đặc thù: Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc tự mình quản lý, điều hành đối tượng bỏ vốn; Các bên tham gia vào DA FDI có quốc tịch khác nhau, sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau; DA FDI chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật; Có sự gặp gỡ và “cọ xát” về văn hoá giữa các 13 nền văn hoá khác nhau trong quá trình hoạt động của DA; Các DA FDI được thực hiện với nhiều hình thức đầu tư có tính đặc thù. Đó là việc hình thành các pháp nhân mới có yếu tố nước ngoài, hoặc là sự hợp tác có tính đa quốc gia; Phần lớn các DA FDI đều gắn với quá trình chuyển giao công nghệ với nhiều hình thức và ở nhiều mức độ khác nhau; “Cùng có lợi” là phương châm chủ đạo đối với các bên tham gia DA, và cũng là nguyên tắc cơ bản để giải quyết các mối quan hệ giữa các bên trong mọi giai đoạn của DA FDI. Như vậy, những đặc trưng cơ bản trên của các DA FDI cho thấy, về bản chất là sự hợp tác theo nguyên tắc thoả thuận của nhiều quốc gia với quốc tịch, ngôn ngữ, luật pháp, văn hoá và trình độ phát triển khác nhau. Chính sự khác nhau về nhiều mặt này trong quá trình quá trình hợp tác đầu tư đã làm cho các DA FDI trở nên hết sức phức tạp trong quá trình soạn thảo, triển khai và vận hành DA.
Phân loại dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài Có nhiều cách để phân loại DA FDI, tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Để thuận tiện cho việc quản lý, người ta thường phân các DA theo những tiêu thức khác nhau: * Căn cứ vào hình thức đầu tư của DA, Luật Đầu tư Việt Nam quy định có 4 loại DA FDI chủ yếu, gồm: DA “Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng” (BCC); DA “Doanh nghiệp liên doanh” (JV); DA “Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài”; và các DA BOT, BTO, BT cùng với các hình thức phái sinh của nó. Sự phân chia này cho phép đánh giá cơ cấu và xu hướng chuyển đổi giữa các hình thức đầu tư. * Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh doanh, có thể phân chia DA FDI thành 3 loại tương ứng với cơ cấu ngành kinh tế, đó là: DA FDI trong lĩnh vực công nghiệp; DA FDI trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; DA FDI trong lĩnh vực dịch vụ.
14 * Theo quy mô của dự án, có: DA quy mô nhỏ, quy mô vừa và DA quy mô lớn. * Hoặc có thể phân theo đối tác, địa điểm đầu tư, theo mức độ tập trung,… 1. Chu trình của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài Vòng đời của DA FDI bắt đầu từ khi nghiên cứu cơ hội đầu tư hoặc có ý định đầu tư cho đến khi kết thúc hoạt động của DA và thanh lý xong DA.