Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT VỐN DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 Tổngquan về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI): 1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài: Xuất phát từ nhiều góc độ, quan điểm khác nhau trên thế giới đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về FDI (Foreign Direct Investment) Theo Quỹ Tiền tệ Quốc Tế(IMF- International Monetary Fund): Theo Cẩm nang thanh toán xuất bản lần thứ 5 của IFM thì Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment) là hoạt động đầu tư nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. + Quyền sở hữu của nhà đầu tư tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI + Quyền kiểm soát thực sự doanh nghiệp (effective voice in magnagement) chính là quyền kiểm soát doanh nghiệp. Quyền kiểm soát (control- tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư chứng khoán. Theo Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế(OECD - Organization for Economic Co-operation and Development): Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: + Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; + Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; + Tham gia vào một doanh nghiệp mới; + Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm).
4 Khái niệm của IMF và OECD đưa ra đều nhấn mạnh đến ”lợi ích kinh tế lâu dài” và mục tiêu tạo được sự ảnh hưởng đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm của OECD chỉ ra một cách cụ thể hơn cách thức nhà đầu tư tạo ảnh hưởng đối với các doanh nghiệp. Theo Tổ chức Thương mai Thế giới(WTO- World Trade Organization): Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền kiểm soát tài sản đó. Quyền kiểm soát là dấu hiệu để phân biệt FDI với các hoạt động đầu tư khác.
Ở ViệtNam: Luật pháp tại Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài” (FDI). Tuy nhiên, theo Điều 3 Luật Đầu Tư năm 2005 của Việt Nam có định nghĩa “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, ”đầu tư ra nước ngoài” như sau: + “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. +“Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” + “Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư” Từ các khái niệm của Luật đầu tư năm 2005 có thể hiểu: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia kiểm soát hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Tóm lại, FDIlà một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó nhằm mục tiêu đạt được lợi ích trong dài hạn.2 Phân loại FDI: 5 FDI có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào quy định của luật pháp nước nhận đầu tư.
Theo luật đầu tư 2005 của Việt Nam, có các hình thức FDI chủ yếu như sau: - Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài. - Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. - Các hình thức FDI khác:nhưhình thứcđầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT,đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và công ty con (Holding company), công ty cổ phần, chi nhánh công ty nướcngoài, đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A)….3 Đặc điểm của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: - Tùy theo Luật pháp của từng nước, nhàđầu tư nước ngoài phải góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Trên thế giới, các nước quy định tỉ lệ này rất khác nhau.
Tại Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%; tại Pháp và Anh là 20%; trong khi đó tại Việt Nam, Luật đầu tư quy định là 30% và trong những trường hợp đặc biệt có thể giảm nhưng không dưới 20%. Theo OECD (1996) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp - mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp. - Tỷ lệ góp vốn của các chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. - Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia cho các nhà đầu tư theo tỉ lệ góp vốn và vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần (nếu có) - Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý dự án mà họ bỏ vốn đầu tư, tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lãi, lỗ.
Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị. Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỉ lệ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định của dự án 6 - FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiếp với nhau.4 Các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI: 1.1Các nhân tố thuộc môi trường quốc tế: Đó là các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu có ổn định hay không, có thuận lợi hay không thuận lợi cho nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư cũng như cho chính chủ đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Tình hình chính trị trong khu vực và quốc tế tác động đến các nhà đầu tư đang tìm kiếm đối tác và tới cả các dự án đang triển khai. Khi môi trường kinh tế chính trị trong khu vực và thế giới ổn định, khi đó các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các nước có khả năng sinh lợi cao hơn trong nước và nước tiếp nhận đầu tư có cơ hội thu hút vốn FDI.
Ngược lại, khi biến động xảy ra, nguồn đầu vào và đầu ra của các dự án có nguy cơ thay đổi, các nhà đầu tư gặp khó về mặt lưu chuyển vốn nên ảnh hưởng đến hiệu quả FDI. Sự cạnh tranh giữa các nước nhận đầu tư trong thu hút FDI có ảnh hưởng mạnh mẽ đến dòng chảy FDI. Để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút FDI, các nước nhận đầu tư thường xuyên cải tiến môi trường đầu tư, tạo nhiều điều kiện thuận lợi và đưa ra những chính sách ưu đãi cho chủ đầu tư. Nước nào xây dựng được môi trường đầu tư có sức hấp dẫn cao hơn thì nước đó sẽ có khả năng thu hút được nhiều FDI hơn.
Mặt khác, sự thay đổi chính sách của nước chủ nhà để phù hợp với tình hình thực tế, đòi hỏi các nhà ĐTNN phải có thời gian tìm hiểu thay đổi chiến lược đầu tư, ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư 1.2Các nhân tố thuộc môi trường nước nhận đầu tư: Môi trường chính trị - kinh tế - xã hội: Các nhà đầu tư thường coi yếu tố chính trị của một nước là yếu tố hấp dẫn hàng đầu, vì có ổn định chính trị thì các cam kết của chính phủ nước chủ nhà đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên, định hướng phát triển mới được đảm bảo.Nhân tố chính trị - xã hội có tác động mạnh mẽ đến yếu tố rủi ro trong 7 đầu tư. Nếu nước chủ nhà có hệ thống chính sách đầy đủ và hợp lý, đảm bảo sự nhất quán về chủ trương thu hút đầu tư thì càng thu hút sự quan tâm của nhà ĐTNN. Sự ổn định chính trị - xã hội có ý nghĩa quyết định đến việc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài.Tình hình chính trị không ổn định, đặc biệt là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mục tiêu và phương thức thực hiện mục tiêu sẽ thay đổi. Hậu quả là lợi ích của các nhà ĐTNN giảm đi (họ phải gánh chịu một phần hay toàn bộ các thiệt hại) dẫn đến mất lòng tin của các nhà đầu tư đối với nước nhận đầu tư.
Mặc khác, khi tình hình chính trị, xã hội không ổn định, Nhà nước khó kiểm soát hoạt động của nhà ĐTNN, hậu quả là các nhà đầu tư hoạt động theo mục đích riêng, không theo định hướng chiến lược phát triển kinh tế -xã hội của nước nhận đầu tư, làm cho hiệu quả sử dụng vốn FDI thấp Sự ổn định về môi trường chính trị-kinh tế- xã hội như là một điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế, từ đó có thể thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển kinh tế. Một khi nền kinh tế ổn định về mặt chính trị, xã hội thì sự an toàn và sinh lợi của đồng vốn đi đầu tư càng được đảm bảo.