Chương 1:Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN FDI 1. Khái niệm Trong những thập niên gần đây hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển.
Các quốc gia này, trong đó có Việt Nam ngày càng nhận thức đƣợc tầm quan trọng và lợi ích do nguồn vốn này đem lại, bên cạnh việc cung cấp một nguồn tài chính lâu dài, hiệu quả, FDI còn thúc đẩy việc chuyển giao các nguồn tài sản phi vật chất nhƣ công nghệ, kỹ thuật, và kỹ năng quản lý. Ngoài ra FDI còn góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thị trƣờng quốc tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nƣớc. Hiện nay có nhiều định nghĩa về FDI đƣợc đƣa ra. Theo cách định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đƣợc nêu trong “ Tài liệu hƣớng dẫn về Cán cân thanh toán”, FDI đƣợc hiểu là “ Một hoạt động đầu tư thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”.
Khi tiến hành đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, các nhà đầu tƣ thƣờng đặt ra các mục tiêu lợi ích dài hạn. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tƣ trực tiếp và doanh nghiệp nhận đầu tƣ trực tiếp đồng thời có một mức độ ảnh hƣởng đáng kể với việc quản lý doanh nghiệp này, nói cách khác là quyền kiểm soát doanh nghiệp đó. Theo UNCTAD ( Hội nghị của LHQ về Thƣơng mại và phát triển): “FDI được định nghĩa là việc đầu tư dài hạn gắn với lợi ích và sự kiểm soát lâu dài giữa một chủ thể đầu tư ở một nước (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay công ty mẹ) vào một công ty ở nước khác (công ty FDI hay công ty con)” Theo luật Đầu tƣ 2005 của Việt Nam, các khái niệm về “đầu tƣ”, “đầu tƣ trực tiếp”, “đầu tƣ nƣớc ngoài” đã đƣợc nêu ra nhƣng không có khái niệm “đầu tƣ trực tiếp 4 nƣớc ngoài”. Tuy nhiên có thể đƣa ra nhận định FDI là hình thức nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ tại nƣớc khác.
Nhƣ vậy, từ các quan điểm đã nêu ở trên, có thể hiểu vốn FDI là hình thức nhà đầu tư nước ngoài dịch chuyển tiền, công nghệ.từ nước này sang nước khác đồng thời nắm quyền quản lý, điều hành với mục đích thu được lợi ích kinh tế từ nước tiếp nhận đầu tư. Đặc điểm của vốn FDI - Vốn FDI được đầu tư vì mục đích kiếm lợi nhuận Vốn FDI chủ yếu là đầu tƣ tƣ nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Do chủ thể là đầu tƣ tƣ nhân, có thể là các TNCs ( Công ty xuyên quốc gia – Trans National Companies ) hoặc các MNCs ( Công ty đa quốc gia- Multi National Companies) nên mục đích chính của đầu tƣ là lợi nhuận, các quốc gia nhận đầu tƣ cần lƣu ý điều này khi thu hút FDI, phải xây dựng cho mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hƣớng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nƣớc mình. - Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp: Thu nhập của chủ đầu tƣ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tƣ, nó mang tính chất là thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức.
- Chủ đầu tư nắm quyền ra quyết định đầu tư: chủ đầu tƣ có quyền quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm lỗ lãi. Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tƣ, hình thức đầu tƣ, thị trƣờng đầu tƣ, quy mô đầu tƣ cũng nhƣ công nghệ cho mình, do đó sẽ tự đƣa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nƣớc nhận đầu tƣ. - FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua hoạt động FDI, nƣớc chủ nhà có thể tiếp nhận đƣợc công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Ví dụ trong lĩnh vực bƣu chính viễn thông của Việt Nam, hầu hết công nghệ mới trong lĩnh vực này có đƣợc nhờ chuyển giao công nghệ từ nƣớc ngoài. Các hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Theo hình thức thâm nhập a.
Đầu tư mới Đầu tƣ mới (Greenfield Investment) là hoạt động đầu tƣ trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nƣớc ngoài hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại. Hình thức đầu tƣ mới phổ biến hơn ở các nƣớc đang phát triển và đƣợc các nƣớc nhận đầu tƣ ƣa chuộng hơn, bởi hình thức đầu tƣ mới có ƣu điểm là tạo ra những năng lực sản xuất mới, tạo công ăn việc làm mới cho ngƣời dân, mà không tạo ra hiệu ứng cạnh tranh hoặc gây ra tình trạng độc quyền trong ngắn hạn đe dọa đến các thành phần kinh tế của nƣớc nhận đầu tƣ, nhất là đối với các nƣớc đang và kém phát triển. Mua lại và sáp nhập qua biên giới Mua lại và sáp nhập qua biên giới (M&A: Cross-border Merger and Acquisition): mua lại và sáp nhập qua biên giới là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nƣớc ngoài đang hoạt động. Theo luật cạnh tranh năm 2004 ( luật số 27/2004/QH11, thông qua ngày 3/12/2004), tại mục 3 “Tập trung kinh tế”- điều 17 đƣa ra những khái niệm cụ thể về các hình thức đầu tƣ này nhƣ sau: - Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
- Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất. - Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. - Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới. 6 Hình thức mua lại hoặc sáp nhập thƣờng đƣợc các chủ đầu tƣ ƣu tiên hơn và thƣờn xuất hiện ở các nƣớc phát triển ( M&A chiếm 77% FDI ở nƣớc phát triển và 33% FDI ở các nƣớc đang phát triển, chiếm trên 50% FDI toàn thế giới năm 2004).
Theo quy định của pháp luật Việt Nam Theo quy định tại điều 21 - Luật đầu tƣ 2005 ( Luật số 59/2005/QH11 ban hành ngày ngày 29/11/2005), các hình thức đầu tƣ trực tiếp bao gồm: 1. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà nƣớc đầu tƣ trong nƣớc hoặc 100% vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Đầu tƣ theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT.
Đầu tƣ phát triển kinh doanh. Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ. Đầu tƣ thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Các hình thức đầu tƣ trực tiếp khác.
Sự tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài với sự phát triển kinh tế 1. Đối với nước chủ đầu tư là nước công nghiệp phát triển a. Tích cực - FDI giúp bành trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế; thông qua việc đầu tư FDI vào các nước, do đặc điểm của FDI là nhà đầu tƣ nắm quyền ra quyết định trong kinh doanh, nên đi kèm với đầu tƣ là nhà đầu tƣ có quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp, từ đó có quyền và sức ảnh hƣởng về mặt kinh tế, đối với các nhà đầu tƣ lớn, việc ra quyết định đầu tƣ tại đâu đem lại cho họ sức mạnh và sức ảnh hƣởng đối với nền kinh tế và gây ảnh hƣởng trên chính trƣờng quốc tế. - Sử dụng lợi thế của nơi tiếp nhận vốn giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tỷ suất lợi nhuận, khắc phục tình trạng thừa vốn tương đối đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩn, khắc phục tình trạng lão hóa sản phẩm: Do việc tìm kiếm, theo đuổi lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh là bản chất, là động cơ, là mục tiêu cơ bản xuyên suốt của các nhà đầu tƣ nên khi quá trình tích tụ tập trung vốn đạt tới trình độ mà “mảnh đất” sản xuất kinh doanh truyền thống 7 của họ đã trở nên chật hẹp tới mức cản trở khả năng hiệu quả của đầu tƣ, trong khi ở một số quốc gia khác lại xuất hiện nhiều lợi thế mà họ có thể khai thác để thu lợi nhuận cao hơn nơi mà họ đang đầu tƣ ( nhƣ lợi thế về thị trƣờng không hoặc ít đối thủ cạnh trạnh, nhân công giá rẻ, nguồn cung cấp vật liệu dồi dào,.) thì đầu tƣ ra nƣớc ngoài là phƣơng thức giải quyết có hiệu quả.