chương 1, tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu nêu ra lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu tổng quát, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu, bố cục luận văn và là tiền đề để tác giả phân tích các chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ FDI VÀ THU HÚT FDI 2. Khái niệm về FDI Tại Hội thảo của Đại hội Hiệp hội Pháp luật quốc tế Henxiky năm 1966, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một khái niệm chung nhất về đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phân biệt với các khoản kinh tế khác nhận được từ bên ngoài: “Đầu tư nước ngoài là sự vận động tư bản từ nước người đầu tư sang nước người sử dụng đầu tư với mục đích thành lập ở đây một xí nghiệp sản xuất hay dịch vụ nào đó”.vn, 2018) Còn theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1990s): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”.
Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển UNCTAD cũng đưa ra một khái niệm về FDI. Theo đó, nguồn vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. FDI bao gồm: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty. Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 đưa ra khái niệm: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài" là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này.
Đến Luật Đầu tư năm 2014 thì không còn đề cập đến khái niệm “Đầu tư trực tiếp nước ngoài”, tuy nhiên có thể ngầm hiểu thông qua khái niệm “Nhà đầu tư nước ngoài” là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Như vậy, từ những khái niệm nêu trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là hoạt động của nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia sở tại để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận của mình. Bản chất của FDI Theo (Nguyễn Hoàng Ân và cộng sự, 12/2012), bản chất của FDI bao gồm những điểm sau: + Có sự thiết lập về quyền sở hữu về tư bản của công ty một nước ở một nước khác; + Có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lý các nguồn vốn đã được đầu tư; + Có kèm theo quyền chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý; + Có liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia; + Gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế; 2. Đặc điểm của FDI Theo (Luật Đầu tư - Luật số: 67/2014/QH13, 2014), đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI có những đặc điểm sau: + Các chủ đầu tư thực hiện đầu tư trên nước sở tại phải tuần thủ pháp luật của nước đó; + Hình thức này thường mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao; + Tỷ lệ vốn quy định vốn phân chia quyền lợi và nghĩa vụ các chủ đầu tư; + Thu nhập chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh; + Tồn tại hiện tượng hai chiều trong FDI: một nước vừa nhận đầu tư vừa thực hiện đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế so sánh giữa các nước; + Do nhà đầu tư muốn đầu tư vào thì phải tuân thủ các luật pháp của nước sở tại nên tỷ lệ vốn tối thiểu của nhà đầu tư vào vốn điều lệ của dự án là do luật đầu tư của mỗi nước quyết định.
Campuchia quyết định là 40% trong khi ở Mỹ lại quyết định 10% và một số nước khác lại là 20%; + Các nhà đầu tư là nguồn bỏ vốn và đồng thời tự mình trực tiếp quản lý và điều hành dự án. Quyền quản lý phụ thuộc vào vốn đóng góp mà chủ đầu tư đã góp trong vốn điều lệ của dự án, nếu doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì họ có toàn quyền quyết định; 9 + Kết quả thu được từ dự án được phân chia cho các bên theo tỷ lệ vốn góp vào vốn điều lệ sau khi đã nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần cho các cổ đông nếu là công ty cổ phần; + FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng mới hay mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động, thông qua việc mua cổ phần, vốn góp; 2. Vai trò của thu hút vốn đầu tư FDI - FDI bổ sung nguồn vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế của nước nhận đầu tư. - FDI giúp thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế và cải thiện cán cân thanh toán.
- FDI là yếu tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - FDI giúp thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các công ty đa quốc gia. - FDI góp phần giải quyết việc làm và nâng cao trình độ của người lao động. Các lý thuyết liên quan 2.
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Theo Luật Đầu tư năm 2014 được Quốc hội khóa 13 thông qua thì nhà đầu tư nước ngoài có các hình thức đầu tư sau: - Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trước đây có một thuật ngữ rất hay được sử dụng để diễn tả hình thức đầu tư này là “doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài”; doanh nghiệp hoạt động theo hình thức này là một thực thể kinh tế có tư cách pháp nhân, hoạt động theo sự điều hành và quản lý của chủ đầu tư nước ngoài trên cơ sở tùy thuộc vào luật pháp và môi trường kinh doanh của nước sở tại. - Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế: Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hay nói cách khác là hình thức liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài.
Hình thức 10 đầu tư này là hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính, luật pháp, văn hóa; hoạt động trên cơ sở đóng góp giữa các bên về vốn, quản lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra. - Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP: Theo Khoản 1, Điều 3, Nghị định 15/2015/NĐ-CP năm 2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư có quy định: “Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (sau đây gọi tắt là PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công” và bao gồm các hình thức như BOT, BTO, BT, BOO, BTL… Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài được phép ký hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi hoàn thành tùy từng loại hợp đồng mà lợi ích của nhà đầu tư sẽ được cam kết thực hiện. Ví dụ hợp đồng BOT là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định. - Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC: hợp đồng hợp tác kinh doanh là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế.
Mối quan hệ giữa FDI và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội FDI có thể diễn ra theo hai hướng, là đầu tư nước ngoài vào trong nước và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài. Cả hai dòng đầu tư này đều có vai trò và tác động hết sức quan trọng đối với một quốc gia. Tuy nhiên, sự tác động ở mức độ khác nhau đối với mục tiêu, kết quả phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia đó. * Tác động tích cực Tiếp nhận FDI sẽ mang lại cho nước tiếp nhận nguồn vốn lớn cho phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.
Nguồn vốn này đặc biệt quan trọng đối với những nước đang hạn chế về nguồn vốn trong nước và có cơ hội tăng thêm vốn trên thị trường quốc tế mà nước nhận đầu tư không phải lo gánh nặng về công 11 nợ. Ngoài ra, FDI thường đi kèm với công nghệ, kỹ thuật hiện đại, chuyển giao các bí quyết công nghệ tiên tiến. Nhờ chuyển giao, lan tỏa công nghệ mà năng suất lao động ở nước tiếp nhận và hiệu quả sử dụng các nguồn lực ngày càng tăng. Thông qua FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận các kỹ năng, phương pháp quản lý, cách thức điều hành tiên tiến của các công ty đa quốc gia.
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì những kỹ năng quản lý, điều hành và quản trị doanh nghiệp này đều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của họ (Nguyễn Thị Thu Hà, 2018). Bên cạnh đó, các công ty đa quốc gia đầu tư FDI vào các nước nhận đầu tư sẽ sử dụng lao động tại địa phương.